Trang chủ › Kiến thức › Xói mòn đất: nguyên nhân, cách nhận biết và giải pháp khắc phục
Xói mòn đất: nguyên nhân, cách nhận biết và giải pháp khắc phục
Tóm tắt
Trong bài viết này, OlaFarm chia sẻ với bạn cách nhận ra xói mòn đất ngay trên thửa ruộng của mình từ lúc nó còn chưa thành rãnh, bốn dấu hiệu đọc được bằng mắt thường, và năm cách khắc phục kèm số đo thực tế để bạn chọn cách hợp với mảnh đất của mình.

Người làm ruộng lâu năm thường nhận ra mảnh đất của mình đang yếu đi trước khi gọi được tên hiện tượng. Cùng một thửa, cùng một giống, nhưng phân bón phải tăng dần qua từng vụ mới giữ nổi năng suất cũ. Sau mỗi trận mưa lớn, nước chảy khỏi ruộng lại đục hơn một chút, và cái màu đục ấy chính là đất của bạn đang rời đi.
Xói mòn đất là quá trình đó. Nó hiếm khi diễn ra thành một sự cố để bạn kịp phản ứng, mà đi dần từng mùa, cho tới lúc bạn nhìn thấy rãnh trên mặt ruộng thì phần thiệt hại lớn nhất đã xảy ra từ lâu rồi.
Bài viết này đi theo đúng thứ tự bạn cần: nhận ra nó trước, hiểu nguyên nhân, rồi mới chọn cách chữa. Mỗi con số chúng tôi đưa ra đều có nguồn kèm số trang để bạn tra lại được.
Nội dung bài
- Xói mòn đất là gì, và khác gì rửa trôi hay sạt lở
- Vì sao dạng nguy hiểm nhất lại là dạng bạn không nhìn thấy
- Nguyên nhân xói mòn đất nằm ở ba chỗ
- Xói mòn đất gây thiệt hại ở những đâu
- Năm cách khắc phục xói mòn đất và cách nào hợp với ai
- Băng cỏ Vetiver: số đo ở sáu nước và kinh nghiệm Việt Nam
- Những việc băng cỏ Vetiver không làm được
- Câu hỏi thường gặp về xói mòn đất
1. Xói mòn đất là gì, và khác gì rửa trôi hay sạt lở?
Ba từ hay bị dùng lẫn vào nhau
Ba từ này mô tả ba thứ khác nhau, và phân biệt được chúng giúp bạn chọn đúng cách xử lý.
Xói mòn đất là quá trình các hạt đất bị tách khỏi chỗ của nó rồi bị nước hoặc gió mang đi nơi khác. Đây là một quá trình liên tục, chậm, xảy ra trên cả bề mặt thửa ruộng cùng lúc.
Rửa trôi là phần đi theo dòng nước, chủ yếu là chất dinh dưỡng hoà tan và các hạt mịn nhất. Bạn có thể mất dinh dưỡng vì rửa trôi trong khi mặt ruộng nhìn vẫn còn nguyên.
Sạt lở là khi cả một khối đất mất ổn định và trượt xuống trong vài phút. Đây là một sự kiện chứ không phải một quá trình, và nó cần điều kiện riêng về địa chất, độ dốc cùng lượng nước ngấm trong thân dốc.
Ba thứ này liên quan với nhau theo một chiều khá rõ. Xói mòn kéo dài làm mỏng lớp phủ và khoét dần chân dốc, nên nó dọn đường cho sạt lở. Ngược lại thì không: một vụ sạt lở không sinh ra xói mòn, nó chỉ để lại một mặt đất trần mới cho xói mòn tiếp tục làm việc.
Bốn dạng xói mòn, xếp theo thứ tự chúng xuất hiện
| Dạng | Nhìn thấy gì trên ruộng | Khi nào xuất hiện |
|---|---|---|
| Xói mòn bề mặt | Gần như không thấy gì. Đất mỏng đi đều khắp thửa | Ngay từ trận mưa đầu trên mặt đất trần |
| Xói mòn rãnh | Các rãnh nhỏ song song chạy dọc theo chiều dốc, sâu vài centimet | Khi dòng chảy bắt đầu gom lại thành tia |
| Mương xói | Rãnh sâu, máy cày không qua được, hai bờ dựng đứng | Khi rãnh nhỏ không được xử lý qua vài mùa mưa |
| Xói mòn do gió | Bụi bay, cát chạy, cây con bị vùi hoặc bị cắt gốc | Trên đất cát khô, ít lớp phủ, nhiều gió |
Ba dạng đầu là ba giai đoạn nối tiếp của cùng một quá trình chứ không phải ba vấn đề riêng. Bạn để yên xói mòn bề mặt thì sẽ có rãnh, để yên rãnh thì sẽ có mương xói.
Ở Việt Nam, phần đất chịu rủi ro này rất lớn. Vùng đồi núi chiếm khoảng 25 triệu hecta, phần lớn nằm trên độ dốc 25% đến 45%, nên xói mòn là mối đe doạ thường trực với cả sản xuất nông nghiệp lẫn môi trường (nguồn: Trần Thị Tâm, Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Vetiver – A Promising Grass for Soil Conservation in Vietnam, TVNI).
2. Vì sao dạng xói mòn nguy hiểm nhất lại là dạng bạn không nhìn thấy?
Xói mòn bề mặt trong điều kiện bình thường không được nhận ra, nên nó hiếm khi được xử lý. Trong khi đó, gần như toàn bộ công sức chống xói mòn từ trước tới nay đều dồn vào rãnh xói và mương xói, tức là dồn vào hai thứ do chính xói mòn bề mặt sinh ra (nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 1).
Cơ chế của nó đơn giản đến mức dễ bị bỏ qua. Hạt mưa rơi xuống mặt đất trần đập tơi các hạt đất ra, nước chảy tràn cuốn những hạt vừa bị đánh tơi ấy đi, và dòng nước đục chảy vào mương, vào suối chính là tầng mặt của bạn đang rời khỏi ruộng. Không có tiếng động, không có vết nứt, không có gì để bạn kịp lo.

Bốn dấu hiệu bạn đọc được ngay trên thửa ruộng
Xói mòn bề mặt không vô hình, nó chỉ không hiện ra dưới dạng một cái hố. Bốn dấu hiệu dưới đây bạn xem được trong một vòng đi bộ quanh ruộng sau trận mưa lớn.
| Dấu hiệu | Nó nói lên điều gì |
|---|---|
| Đất đọng thành gờ ngay phía trên một viên gạch, gốc cây hay bất cứ vật cản nào nằm trên dốc | Có dòng chảy tràn mang theo đất, và vật cản đó đang giữ lại một phần |
| Sỏi và đá nhỏ nằm nhô lên khỏi mặt đất, mỗi hòn đội một chân đất nhỏ dưới bụng | Đất xung quanh đã bị cuốn đi, chỉ phần được hòn đá che còn lại |
| Những mảng đất còn nguyên hình nằm dưới cành khô, cụm rơm hay lá mục | Đó là cao độ mặt đất cũ, phần xung quanh đã thấp xuống |
| Rễ cây lộ thiên, nhất là ở vườn cây lâu năm và đất rừng đã mất tầng thảm mục | Tầng mặt quanh gốc đã mất đủ dày để rễ trồi ra |
(nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 1–2)
Cách đo xem bạn đã mất bao nhiêu đất
Có một phép đo bạn tự làm được, không cần thiết bị gì. Hãy tìm một bụi cây hoặc khóm cỏ đã sống lâu năm trên thửa đất, loại có bộ rễ giữ được đất ngay dưới gốc. Quanh gốc nó thường có một gò đất nhỏ nhô cao hơn mặt ruộng. Đỉnh gò ấy chính là cao độ mặt đất ở thời điểm cây bén rễ, còn mặt ruộng hiện tại là cao độ bây giờ. Chênh lệch giữa hai mức đó là lượng đất đã mất trên toàn bộ khoảnh xung quanh.
Con số này thường làm người đo giật mình. Trong trường hợp ghi lại trong sổ tay của Mạng lưới Vetiver Quốc tế, chênh lệch đo được là 50 centimet đất trên cả cánh đồng, kể từ khi hai bụi cây đó bén rễ (nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 3).
Nếu bạn đo ra một con số đáng kể thì đó chính là lúc nên xử lý, chứ không phải chờ tới khi nhìn thấy rãnh. Rãnh chỉ là giai đoạn sau của cùng một chuyện đang xảy ra.
3. Nguyên nhân xói mòn đất nằm ở ba chỗ
Mưa và độ dốc quyết định sức phá
Hai yếu tố này bạn không đổi được, nhưng cần biết để lượng sức. Mưa nhiệt đới thường dồn vào ít trận lớn, nên năng lượng hạt mưa đập xuống mặt đất tập trung trong vài giờ thay vì rải đều cả mùa. Độ dốc thì quyết định tốc độ: dốc càng lớn, nước chảy càng nhanh và sức cuốn đất càng mạnh.
Lớp phủ mặt đất là thứ quyết định nhiều nhất
Đây là chỗ tạo ra khác biệt lớn nhất, và cũng là chỗ bạn can thiệp được. Một mặt đất có lớp phủ thì hạt mưa không đập trực tiếp vào hạt đất, còn dòng chảy thì bị chia nhỏ và hãm lại.
Cây thân gỗ đứng một mình không ngăn được xói mòn bề mặt. Thứ ngăn được là cả một hệ rừng với tầng thảm mục dày và lớp cây thấp phủ kín mặt đất (nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 3). Điều này giải thích vì sao một vườn cây ăn quả tán rộng nhưng dưới gốc sạch trơn vẫn mất đất đều đặn qua từng mùa mưa.
Cách con người làm đất quyết định phần còn lại
Cày và trồng theo chiều dốc là tập quán phổ biến ở vùng canh tác nhờ nước trời, vì làm theo chiều đó thuận tay và nhanh hơn. Nhưng mỗi luống cày dọc dốc là một đường dẫn nước sẵn có. Trên ruộng canh tác theo kiểu này, hơn 50% lượng mưa chảy đi mất dưới dạng nước tràn thay vì ngấm xuống cho cây dùng, và dốc càng đứng thì phần chảy đi càng nhiều, càng mang theo nhiều đất (nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 5).
Hai nguyên nhân còn lại nặng hơn về hậu quả nhưng ít phổ biến hơn trên một thửa ruộng cụ thể. Phá rừng lấy đất canh tác bóc sạch lớp phủ của cả một sườn đồi cùng lúc. Thi công hạ tầng thì cắt vào thân dốc, tạo ra những mặt taluy trần hoàn toàn, và những mặt này bị xói ngay từ mùa mưa đầu tiên nếu chưa kịp phủ.


4. Xói mòn đất gây thiệt hại ở những đâu?
Trên chính thửa ruộng của bạn
Thứ bị lấy đi trước tiên là tầng mặt, và đây là phần đắt nhất của mảnh đất. Gần như toàn bộ chất hữu cơ cùng hệ vi sinh vật của thửa ruộng nằm trong tầng này, và nó cần hàng trăm năm để hình thành trở lại. Mất tầng mặt thì đất giữ nước kém đi, kết cấu chai lại nhanh hơn sau mỗi lần cày, và cây phải sống nhờ phần lớn vào phân bón bạn đưa vào.
Đó là lý do chi phí đầu vào cứ tăng dần trong khi năng suất chỉ đứng yên. Bạn không mua thêm dinh dưỡng cho cây, bạn đang mua bù phần đất đã mất.
Phần đất trôi đi trở thành vấn đề của người khác
Phần đất rời khỏi ruộng không biến mất, nó chỉ chuyển sang chỗ khác và thành vấn đề của người khác. Bùn cát lấp dần lòng mương, đáy hồ chứa và cửa cống, làm giảm dung tích trữ nước cùng khả năng tiêu thoát. Nước mặt đục quanh năm ở nhiều lưu vực cũng bắt nguồn từ đây, và các chất bám theo hạt đất, gồm cả phân bón lẫn thuốc bảo vệ thực vật, đi cùng dòng nước đó.
Xói mòn kéo dài mở đường cho sạt lở
Đây là hậu quả nặng nhất, cũng là chỗ chuỗi leo thang khép lại. Xói mòn bề mặt làm mỏng lớp phủ, rãnh xói tập trung dòng chảy vào vài tuyến, mương xói khoét sâu vào thân dốc và chân dốc. Đến lúc chân dốc mất chỗ tựa thì cả khối đất phía trên mất ổn định.
Với mái dốc nhân tạo dọc đường giao thông và các công trình hạ tầng, quá trình này chạy nhanh hơn nhiều so với sườn tự nhiên, vì mặt taluy vừa đào xong hoàn toàn không có lớp phủ. OlaFarm đã viết riêng một bài về trường hợp này, mời bạn xem thêm ở gia cố mái taluy bằng cỏ Vetiver.
5. Năm cách khắc phục xói mòn đất, và cách nào hợp với ai
| Cách làm | Hợp với | Điểm cần cân nhắc |
|---|---|---|
| Ruộng bậc thang | Đất dốc trung bình, có nhân lực và làm được lâu dài | Tốn công lớn lúc làm và phải duy tu thường xuyên |
| Bờ đất đắp theo đường đồng mức | Vùng cần dẫn nước tràn đi nơi khác | Bờ làm bằng chính thứ đất nó bảo vệ nên sẽ mòn dần, và chiếm mất đất canh tác |
| Lưới, thảm địa kỹ thuật | Mái dốc công trình cần ổn định ngay trong mùa mưa đầu | Chi phí vật tư cao, tuổi thọ hữu hạn, không cải thiện được đất |
| Trồng cây thân bụi làm hàng cản | Ruộng đồi, vườn cây lâu năm | Hiệu quả phụ thuộc hoàn toàn vào việc hàng cây có kín gốc hay không |
| Băng cỏ sống theo đường đồng mức | Cả đất canh tác lẫn mái dốc công trình | Cần một đến hai mùa để hàng khép kín, giai đoạn đầu vẫn cần biện pháp tạm |
Ba điểm dưới đây là chỗ nhiều người chọn nhầm, nên OlaFarm nói rõ hơn.
Ruộng bậc thang giảm được xói mòn nhưng không giải quyết rửa trôi. Trong một số trường hợp, cách làm này còn ảnh hưởng xấu tới độ ẩm của đất (nguồn: Grimshaw 1988, dẫn theo cẩm nang TVNI, tr. 106). Nếu vấn đề của bạn là đất bạc dần chứ không chỉ là đất trôi thì bậc thang chưa đủ.
Bờ đất đắp có hai điểm yếu ít được nói tới. Thứ nhất, bờ được đắp bằng chính loại đất mà nó phải bảo vệ, và việc đắp bờ làm sườn dốc chỗ đó đứng hơn, nên theo thời gian bờ sẽ mòn đi rồi phải làm lại. Thứ hai, để lấy đủ đất đắp bờ và đào rãnh dẫn, bạn phải lấy một dải rộng khoảng 5 mét chạy suốt chiều dài bờ ra khỏi diện tích canh tác, tức là mất khoảng 1 hecta đất sản xuất cho mỗi 20 hecta được xử lý (nguồn: sổ tay Vetiver giữ đất và nước, tr. 6).
Không phải cây thân bụi nào cũng làm được hàng cản. Ở Việt Nam, cây cốt khí và dứa dại từng được dùng khá rộng cho mục đích này, đôi khi kết hợp với ruộng bậc thang, nhưng kết quả của hai loài rất khác nhau. Cây cốt khí chỉ có tác dụng khi còn sống và thường lụi sau hai đến ba năm, còn dứa dại thì hiệu quả rất thấp, thậm chí làm gia tăng xói mòn vì thân cây to nhưng mọc thưa nên không tạo được hàng rào kín, và nước len qua giữa các thân sẽ chảy mạnh thêm (nguồn: cẩm nang TVNI, tr. 112).
Thứ quyết định trong cả ba trường hợp trên không phải là bạn trồng cây gì, mà là hàng cây ấy có kín sát mặt đất và có đứng thẳng được dưới dòng chảy hay không.
6. Băng cỏ Vetiver chống xói mòn đất: số đo ở sáu nước và kinh nghiệm Việt Nam
Trong năm cách ở mục trên, băng cỏ sống là cách được nghiên cứu và đo đạc nhiều nhất, và loài được dùng nhiều nhất cho việc này là cỏ Vetiver, tên khoa học Chrysopogon zizanioides. Ba đặc điểm khiến nó hợp vai: thân cứng và mọc thẳng đứng nên băng cỏ không đổ rạp dưới dòng chảy mạnh, các khóm trồng sát nhau khép kín tới tận mặt đất, và bộ rễ đâm thẳng xuống sâu giữ chặt khối đất ngay dưới hàng. Nếu bạn muốn hiểu kỹ về đặc tính của cây, mời bạn đọc cẩm nang A–Z về cỏ Vetiver.

Cơ chế của một băng cỏ Vetiver trồng ngang sườn dốc
Một băng cỏ Vetiver trồng dày sát nhau theo đường đồng mức làm ba việc cùng lúc. Nó hãm dòng nước chảy tràn lại, nó dàn nước ra đều trên diện rộng thay vì để nước gom thành tia, và nó buộc dòng nước nhả phần bùn cát đang mang xuống ngay phía trên hàng. Phần nước không kịp ngấm sẽ chảy chậm qua các khe giữa các khóm rồi xuống chân dốc mà không còn đủ sức xói (nguồn: Greenfield 1989, dẫn theo cẩm nang TVNI, tr. 106).
Điểm hay của cách làm này là nó tự tốt lên theo thời gian. Bùn cát bị giữ lại lắng dần ở phía trên hàng, cây mọc rễ mới từ các đốt thân bị vùi để vươn lên theo lớp đất bồi, và sau vài năm sườn dốc tự chia thành các bậc thoải mà bạn không phải đắp bờ (nguồn: sổ tay Vetiver cho nông nghiệp, tr. 2).

Lượng đất mất đo được ở sáu nước
Bảng dưới đây tổng hợp kết quả đo trên đất nông nghiệp, so sánh ba tình huống: lô đối chứng để trần, lô canh tác theo tập quán truyền thống, và lô có băng cỏ Vetiver theo đường đồng mức.
| Nước | Đối chứng (t/ha) | Canh tác truyền thống (t/ha) | Có băng cỏ Vetiver (t/ha) |
|---|---|---|---|
| Thái Lan | 3,9 | 7,3 | 2,5 |
| Venezuela | 95,0 | 88,7 | 20,2 |
| Venezuela, sườn dốc 15% | 16,8 | 12,0 | 1,1 |
| Venezuela, sườn dốc 26% | 35,5 | 16,1 | 4,9 |
| Việt Nam | 27,1 | 5,7 | 0,8 |
| Bangladesh | không đo | 42 | 6 đến 11 |
| Ấn Độ | không đo | 14,4 | 3,9 |
(nguồn: Trương và Loch 2004, dẫn theo cẩm nang TVNI, Bảng 1, tr. 112)
Vuốt ngang để xem đủ bảng.
Hai điều đáng chú ý trong bảng này. Thứ nhất, mức giảm không giống nhau giữa các nước, vì lượng mưa, loại đất và độ dốc mỗi nơi mỗi khác, nên bạn hãy đọc bảng như một dải kết quả chứ không phải một con số cam kết. Thứ hai, ở vài trường hợp lô canh tác truyền thống lại mất đất nhiều hơn lô đối chứng để trần, và điều đó cho thấy cách làm đất sai có thể gây hại hơn cả việc bỏ hoang.
Việt Nam đã làm ở đâu
Phần lớn kinh nghiệm ứng dụng trên đất dốc tại Việt Nam được đúc kết từ “Dự án trồng sắn” do Quỹ Nippon Foundation tài trợ trong giai đoạn 1994 đến 2003. Phần thực hiện tại Việt Nam do Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Viện Nông hoá Thổ nhưỡng và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phối hợp làm, triển khai cùng nông dân miền núi các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và khu vực Tây Nam Bộ (nguồn: cẩm nang TVNI, tr. 111).
Trên đất dốc nơi lớp đất phủ không dày, đã và đang bị rửa trôi, và người canh tác phải đầu tư nhiều cho phân bón để giữ năng suất, thì băng cỏ Vetiver không chỉ hạn chế rửa trôi mà còn giữ lại độ phì cho đất, vì bộ rễ hấp thụ và giữ lại các chất dinh dưỡng hoà tan vốn sẽ bị nước mưa cuốn đi hoặc thấm xuống quá sâu (nguồn: Trương và Loch 2004, dẫn theo cẩm nang TVNI, tr. 111). Đây cũng là lý do băng cỏ Vetiver theo đường đồng mức được xếp vào nhóm giải pháp giữ đất trong canh tác nông nghiệp bền vững.
Ngược lại, nếu lớp đất trồng ở chỗ bạn còn khá dày thì việc giữ đất chưa cần ưu tiên ngay, vì băng cỏ cũng chiếm một phần diện tích và cần công chăm giai đoạn đầu. Bạn nên cân nhắc theo đúng hiện trạng thửa đất của mình thay vì làm theo mặc định.
7. Những việc băng cỏ Vetiver không làm được
Băng cỏ Vetiver làm tốt việc giữ đất trên mặt dốc, và OlaFarm đã cấp giống cho nhiều công trình dùng đúng vào việc đó. Tuy nhiên cách làm này có bốn giới hạn, và bạn nên biết trước khi quyết định.
Băng cỏ Vetiver không thay thế được kết cấu công trình khi khối trượt nằm sâu. Rễ cỏ giữ được lớp đất trong phạm vi nó với tới. Nếu mặt trượt nằm sâu hơn tầng rễ thì việc cần làm là xử lý kết cấu, còn cỏ chỉ đóng vai bảo vệ bề mặt cho phần đã được xử lý.
Cỏ Vetiver không chịu được bóng râm. Bóng che làm cây kém phát triển, và che kéo dài có thể làm mất cây (nguồn: cẩm nang TVNI, tr. 116). Vì vậy dưới tán rừng kín hoặc dưới vườn cây đã giao tán, đây không phải là giải pháp phù hợp.
Băng cỏ cần thời gian mới khép kín. Thông thường phải qua một đến hai mùa sinh trưởng thì các khóm Vetiver mới nối liền nhau thành hàng rào thật sự. Trong giai đoạn đó, nhất là ở mái dốc công trình mới thi công, bạn vẫn cần một biện pháp bảo vệ tạm cho mùa mưa đầu tiên.
Đất quá mỏng trên nền đá thì rễ không có chỗ. Ở những chỗ tầng đất phủ chỉ còn vài centimet trên đá gốc, cây khó bén rễ và băng cỏ khó khép, nên phần đó cần xử lý bằng cách khác.
Nếu bạn đang cân nhắc cho một công trình cụ thể, hãy cho OlaFarm biết độ dốc, loại đất và diện tích cần xử lý, chúng tôi sẽ tư vấn xem cách này có hợp hay không trước khi bàn tới chuyện đặt giống. Bạn xem thêm về các dòng giống và quy cách tại trang giống cỏ Vetiver chống sạt lở.
8. Câu hỏi thường gặp về xói mòn đất
Xói mòn đất là gì và vì sao nó nguy hiểm với ruộng của tôi?
Xói mòn đất là quá trình các hạt đất bị tách khỏi chỗ của nó rồi bị nước hoặc gió mang đi. Nó nguy hiểm vì thứ bị lấy đi đầu tiên luôn là tầng mặt, nơi chứa gần như toàn bộ chất hữu cơ và hệ vi sinh vật của thửa ruộng, và tầng này cần hàng trăm năm mới hình thành trở lại. Bạn sẽ thấy hậu quả dưới dạng chi phí phân bón tăng dần trong khi năng suất chỉ đứng yên.
Ruộng nhà tôi chưa thấy rãnh nào, làm sao biết được là đang bị xói mòn?
Bạn hãy đi một vòng quanh ruộng sau một trận mưa lớn và tìm bốn dấu hiệu: đất đọng thành gờ phía trên các vật cản nằm trên dốc, sỏi đá nhô lên và mỗi hòn đội một chân đất nhỏ, những mảng đất còn nguyên hình dưới cành khô hay cụm rơm, và rễ cây lộ thiên ở vườn cây lâu năm. Có từ hai dấu hiệu trở lên nghĩa là xói mòn bề mặt đang diễn ra.
Xói mòn đất khác sạt lở đất ở chỗ nào?
Xói mòn là một quá trình chậm và liên tục, lấy đi từng lớp mỏng trên khắp bề mặt. Sạt lở là một sự kiện, khi cả khối đất mất ổn định và trượt xuống trong thời gian ngắn. Hai thứ liên quan theo một chiều: xói mòn kéo dài làm mỏng lớp phủ và khoét chân dốc nên nó mở đường cho sạt lở, còn sạt lở thì chỉ để lại một mặt đất trần mới cho xói mòn tiếp tục.
Tôi nên trồng cây gì để chống xói mòn đất trên đất dốc?
Điều quyết định không nằm ở loài cây mà ở chỗ hàng cây có kín sát mặt đất và có đứng thẳng được dưới dòng chảy hay không. Cỏ Vetiver được nghiên cứu nhiều nhất cho việc này vì thân cứng mọc thẳng, các khóm trồng sát nhau khép kín tới sát mặt đất, và rễ đâm thẳng xuống sâu. Một số loài từng dùng phổ biến ở Việt Nam lại không đạt, chẳng hạn dứa dại mọc thưa nên không tạo được hàng rào kín.
Trồng băng cỏ Vetiver bao lâu thì tôi thấy được kết quả?
Băng cỏ Vetiver thường cần một đến hai mùa sinh trưởng để các khóm nối liền nhau thành hàng rào kín, và từ lúc đó tác dụng giữ đất mới đầy đủ. Tác dụng này tăng dần theo năm chứ không giảm, vì lớp đất bồi phía trên hàng dày lên và rễ ngày càng sâu. Trong mùa mưa đầu tiên, nhất là trên mái dốc mới thi công, bạn vẫn nên có một biện pháp bảo vệ tạm.
Chi phí chống xói mòn đất bằng băng cỏ Vetiver khoảng bao nhiêu?
Chi phí phụ thuộc vào độ dốc, vì dốc càng lớn thì các hàng phải trồng càng gần nhau nên cần nhiều giống hơn trên cùng một diện tích. Bạn hãy cho OlaFarm biết diện tích, độ dốc và loại đất của khu vực cần xử lý, chúng tôi sẽ tính giúp bạn số cây cần dùng và gửi báo giá. Trong giờ làm việc, yêu cầu báo giá thường được phản hồi trong khoảng 5 phút.
Nguồn tham khảo
- Sổ tay Vetiver giữ đất và nước — The Vetiver System for Soil and Water Conservation, The Vetiver Network International, 2008. Xói mòn bề mặt không được nhận ra nên hiếm khi được xử lý và dấu hiệu nhận biết (tr. 1–2), cây thân gỗ đơn lẻ không ngăn được xói mòn bề mặt cùng phép đo lượng đất đã mất (tr. 3), tỷ lệ nước mưa mất đi khi canh tác theo chiều dốc (tr. 5), hạn chế của bờ đất đắp theo đường đồng mức (tr. 6).
- Cẩm nang TVNI — Paul Trương, Trần Tân Văn, Elise Pinners, Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. So sánh ruộng bậc thang với hàng cỏ đồng mức, Grimshaw 1988 và Greenfield 1989 (tr. 106), kinh nghiệm Việt Nam từ Dự án trồng sắn và tác dụng giữ độ phì (tr. 111), Bảng 1 lượng đất mất tại sáu nước theo Trương và Loch 2004 cùng đánh giá về cây cốt khí và dứa dại (tr. 112), giới hạn về bóng râm (tr. 116).
- Sổ tay Vetiver cho nông nghiệp — The Vetiver System for Agriculture, The Vetiver Network International, 2008. Hàng cỏ vươn lên theo lớp đất bồi và dần tạo thành bậc thang tự nhiên (tr. 2).
- Trần Thị Tâm, Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Vetiver – A Promising Grass for Soil Conservation in Vietnam, The Vetiver Network International. Diện tích và độ dốc vùng đồi núi Việt Nam.
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




