Trang chủ › Xử lý ô nhiễm đất, nước › Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật: chọn loài nào, hệ nào, được tới đâu

Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật: chọn loài nào, hệ nào, được tới đâu

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 12/09/2026Đọc 19 phútChuyên mục Xử lý ô nhiễm đất, nước

Tóm tắt

Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật là giải pháp chi phí thấp, nhưng chỉ chạy tốt khi bạn chọn đúng loài và đúng kiểu hệ. Bài này đưa bảng so sánh sáu loài thường dùng, bốn cách bố trí, con số diện tích để bạn tự ước lượng, và cả những chất mà cây không xử lý nổi.

Các bè nổi trồng cỏ Vetiver trải trên hồ xử lý nước thải lót bạt đen của nhà máy công nghiệp, một cách xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật ở quy mô công trình
Hồ xử lý nước thải của một nhà máy lọc hoá dầu tại Thanh Hoá, 2026. Cả mặt hồ được phủ bè nổi trồng cỏ, rễ thả thẳng xuống nước.

“Trồng cây xuống hồ thì mỗi tháng hạ được bao nhiêu phần trăm?” Đó là câu đầu tiên gần như chủ đầu tư nào cũng hỏi, và nó bỏ qua mất ba câu quyết định hơn. Trong bài này, OlaFarm sẽ giúp bạn trả lời cả ba câu ấy.

Khi nước bẩn chảy qua một vùng rễ dày, có bốn việc xảy ra cùng lúc: rễ giữ lại chất lơ lửng, cây hút dinh dưỡng và kim loại vào thân lá, đám vi sinh vật sống bám quanh rễ phân huỷ chất hữu cơ, và cây thoát hơi nước nên thể tích nước phải xả cũng giảm đi.

Đó là toàn bộ nguyên lý.

Cái khó nằm ở ba câu hỏi đi sau nguyên lý ấy: trồng cây gì, bố trí kiểu gì, và cần bao nhiêu diện tích? Bài trả lời lần lượt cả ba, bằng bảng so sánh sáu loài, bốn cách bố trí và những con số diện tích đo được ngoài công trình.

→ Cỏ Vetiver xử lý môi trường: làm được gì và không làm được gì

Nội dung bài

Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật chạy bằng bốn cơ chế nào

Bốn cơ chế dưới đây luôn làm việc cùng nhau, nhưng tỷ trọng của từng cơ chế thay đổi theo loại nước thải bạn đang có. Biết cơ chế nào đang gánh phần chính thì bạn mới thiết kế đúng.

Cơ chếChuyện gì xảy raGánh phần chính khi nước thải chứa
Lọc ở vùng rễChất lơ lửng bị bộ rễ giữ lại, kim loại bám lên bề mặt rễCặn lơ lửng, kim loại nặng
Cây hút và tích luỹRễ hút chất tan lên rồi tích vào rễ, thân và láNitơ, phốt pho, một số kim loại
Vi sinh vùng rễ phân huỷVi khuẩn và nấm sống bám quanh rễ bẻ gãy phân tử hữu cơChất hữu cơ, BOD cao, một số hoá chất
Thoát hơi nướcCây bốc hơi nước qua lá nên thể tích nước phải xả giảm dầnNước thải khối lượng lớn, nồng độ vừa

Có một điều bạn nên nhớ vì nó chi phối mọi tính toán về sau: khả năng lấy chất bẩn và nước ra khỏi hệ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào lượng sinh khối cây tạo ra được. Cây lớn nhanh và cho nhiều sinh khối thì xử lý nhanh, cây còi thì hệ chạy chậm dù bạn đã trồng đúng loài (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 31).

Hệ quả rất thực tế: khi so hai loài với nhau, bạn đừng chỉ nhìn phần trăm chất bẩn giảm được trong phòng thí nghiệm. Bạn phải hỏi thêm loài đó sống được bao lâu trong chính nồng độ nước thải của mình, và mỗi tháng nó cho bao nhiêu sinh khối. Bảng ở mục 3 dưới đây so sáu loài đúng theo hai câu hỏi đó.

Có mấy cách bố trí thực vật, và chọn cách nào

Cùng một loài cây, bố trí khác nhau thì công trình khác hẳn nhau về chi phí và về diện tích đất phải có. Trong thực tế chỉ có bốn cách bố trí, và bạn gần như luôn chọn được ngay khi biết mình đang có sẵn cái gì (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 37).

Cách bố tríNguyên lýChọn khiĐiểm phải cân nhắc
Tưới nước thải lên đất trồng cỏBơm nước thải tưới tràn mặt hoặc phun mưa lên ruộng cỏ, cây hút nước và dinh dưỡngBạn có đất trống và muốn xả bằng khôngCần diện tích đất lớn nhất trong bốn cách
Bãi lọc trồng câyCây trồng trên nền đất hoặc trong bể xây, nước chảy qua tầng vật liệu và vùng rễBạn xây mới được một khu xử lý riêngPhải làm nền, phân phối nước và thu nước
Bè nổi thuỷ canhCây cấy lên bè khung nổi, rễ thả thẳng xuống nước, không cần đấtBạn đã có sẵn hồ, không muốn tháo nước, không có đất trốngBè phải chịu được gió và mực nước dao động
Đất ngập nước tự nhiênDùng vùng đầm lầy sẵn có làm bậc hoàn thiện cuốiCó sẵn vùng đệm và được phép sử dụngKhó kiểm soát và khó lấy mẫu đúng vị trí
Công nhân cấy hom cỏ Vetiver vào các bè nổi khung ống nhựa lót lưới dưới mái che nắng cạnh hồ nước thải nhà máy
Bè được lắp và cấy hom ngay tại công trường, dưới mái che nắng cạnh hồ.
Bè nổi trồng cỏ Vetiver được cẩu bằng dây treo thả xuống hồ xử lý nước thải, cạnh các dãy bè đã nổi sẵn
Bè cấy xong được cẩu thả xuống hồ, đặt nối tiếp các dãy bè đã nổi để nước phải đi hết chiều dài luống.

Bè nổi là cách hay bị bỏ qua nhất, trong khi nó lại hợp với tình huống phổ biến nhất ở Việt Nam. Rất nhiều nhà máy đã có sẵn hồ sinh học hoặc hồ chứa lót bạt, nước đang nằm sẵn trong đó, và không ai muốn tháo hồ ra để xây một bãi lọc mới. Với hồ như vậy, bạn thả bè lên mặt nước là hệ chạy được mà vẫn giữ nguyên kết cấu hồ. Đó cũng chính là phương án đang chạy trên hồ trong tấm ảnh phía trên.

Cách làm này đã có hướng dẫn thiết kế riêng bằng tiếng Việt, do nhóm tác giả Trường Đại học Cần Thơ biên soạn cùng các cộng sự quốc tế (Ngô Thuỵ Diễm Trang và cộng sự, 2023). Một tổng quan năm 2024 về hệ bè nổi cũng cho thấy khung bè không nhất thiết phải đắt: bè tre rẻ tiền và dễ đóng tại chỗ vẫn chạy được cho nước thải sinh hoạt (Arivukkarasu và Sathyanathan, 2024).

Một chi tiết nhỏ nhưng quyết định hiệu quả: bạn đừng thả bè rải rác. Bạn nên xếp bè thành luống và chừa lối cho dòng chảy đi vòng, vì thứ quyết định lượng chất bẩn lấy được là quãng đường nước phải đi qua rễ, chứ số bè thả xuống thì ít quan trọng hơn. Việc trồng nhiều loài trên cùng một hệ bè cũng đang được nghiên cứu, nhưng số liệu so sánh giữa các tổ hợp loài vẫn còn ít (Arivukkarasu và Sathyanathan, 2024).

Loài nào xử lý được gì: bảng so sánh sáu loài thường dùng

Nhiều chủ đầu tư quyết sai ngay ở bước này, thường vì chọn theo loài mình quen mặt chứ không theo nồng độ nước thải thực tế của mình.

LoàiMạnh ởChỗ phải cân nhắc
Lục bình (Eichhornia crassipes)Lớn rất nhanh, hút dinh dưỡng tốt ở nước thải loãngChết ở nước thải hữu cơ đậm đặc, và là loài phát tán mạnh
Sậy (Phragmites australis)Loài kinh điển của bãi lọc trồng cây, bềnLan bằng thân rễ, cần chặn biên khi trồng
Cỏ nến, bồn bồn (Typha spp.)Dễ kiếm, chịu ngập sâuThoát hơi nước thấp nên rút thể tích nước chậm
Thuỷ trúc (Cyperus alternifolius)Một trong ba loài tốt nhất khi sàng lọc cho bãi lọcSinh khối vừa phải
Cói nước (Schoenoplectus lacustris)Hấp phụ nhôm rất tốtÍt dữ liệu cho nước thải hữu cơ đậm
Cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides)Chịu nồng độ cao, sinh khối lớn, thoát hơi nước mạnh, không phát tánKhông chịu bóng râm nên phải trồng nơi có nắng
Thảm lục bình phủ kín mặt nước với cụm hoa tím và lá tròn cuống phình, loài thực vật thuỷ sinh quen thuộc trong xử lý ô nhiễm nước
Lục bình · Eichhornia crassipes. Ảnh: Rjcastillo, giấy phép CC BY-SA 4.0.
Bụi sậy xanh cao mọc dày ven mặt hồ mùa hè, loài kinh điển của bãi lọc trồng cây
Sậy · Phragmites australis. Ảnh: Sdjurovic, giấy phép CC BY-SA 4.0.
Khóm cỏ nến với các bông hình xúc xích nâu và lá bản dài mọc ven nước
Cỏ nến, bồn bồn · Typha latifolia. Ảnh: Chris Light, giấy phép CC BY-SA 4.0.
Bụi thuỷ trúc xanh với các tán lá xoè hình nan ô trên đầu thân
Thuỷ trúc · Cyperus alternifolius. Ảnh: Krzysztof Ziarnek, Kenraiz, giấy phép CC BY-SA 4.0.
Một khóm cói nước thân tròn mọc thành đám giữa mặt hồ rộng
Cói nước · Schoenoplectus lacustris, tài liệu cũ ghi là Scirpus lacustris. Ảnh: Krzysztof Ziarnek, Kenraiz, giấy phép CC BY-SA 4.0.
Ruộng cỏ Vetiver trồng thành khóm hàng thẳng trên đất cát tại vườn giống OlaFarm
Cỏ Vetiver · Chrysopogon zizanioides. Ảnh chụp tại vườn giống của OlaFarm.

Năm ảnh đầu lấy từ kho ảnh mở Wikimedia Commons theo giấy phép CC BY-SA 4.0, ảnh cuối do OlaFarm chụp tại vườn giống.

Ba con số dưới đây cho thấy vì sao bảng trên không có loài nào thắng tuyệt đối.

Với nhôm thì có loài thắng cỏ Vetiver. Trong một thí nghiệm so ba loài trên nước thải công nghiệp nhiễm nhôm, ở nồng độ 20% thì cói nước Scirpus lacustris, nay xếp là Schoenoplectus lacustris, lấy được 99% còn cỏ Vetiver 98%; khi nâng nồng độ lên 70%, cỏ Vetiver vẫn giữ được 94%. Hai chi tiết đáng nhớ hơn cả thứ hạng: phần hấp phụ mạnh nhất diễn ra ngay trong 24 giờ đầu, và pH của nước đầu vào là yếu tố ảnh hưởng lớn tới kết quả (Aldana và cộng sự, 2013, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 29).

Với nước thải chăn nuôi thì lục bình gãy trước. Trong thí nghiệm trên nước thải trại lợn có BOD cao, lục bình chết sau 8 ngày, còn cỏ Vetiver vẫn phát triển bình thường và hạ BOD 40%, từ 245,80 xuống 146,37 mg/l sau 32 ngày; cùng khoảng thời gian đó lục bình chỉ đạt 21% và lô đối chứng 19% (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016, tr. 85). Sổ tay xử lý nước của Mạng lưới Vetiver Quốc tế còn dẫn một nghiên cứu trước đó ghi nhận lục bình chết sạch ở mức BOD 120,8 mg/l (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 30).

Với việc rút thể tích nước thì chênh lệch rất lớn. So các loài cây thuỷ sinh với nhau ở mức tiêu thụ trung bình 600 ml mỗi ngày cho một chậu trong 60 ngày, cỏ Vetiver dùng nước gấp khoảng 7,5 lần cỏ nến Typha (Cull và cộng sự, 2000, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 30). Nếu mục tiêu của bạn là giảm khối lượng nước phải xả chứ không chỉ giảm nồng độ, con số này quan trọng hơn mọi phần trăm khác.

Có một nhóm chất mà sổ tay xử lý nước không nói tới, và nó đang thành vấn đề thật. Nước thải ra khỏi trạm xử lý thông thường vẫn còn kháng sinh, vì các bậc xử lý quen thuộc không được thiết kế để lấy nhóm chất này. Một thí nghiệm nhà kính năm 2021 dựng bãi lọc trồng cây kiểu dòng chảy đẩy cho thấy cỏ Vetiver lấy được kháng sinh cùng lúc với nitơ và phốt pho (Panja và cộng sự, 2021). Nếu nguồn nước của bạn đến từ bệnh viện, trại chăn nuôi hay nhà máy dược, đây là chỉ tiêu đáng đưa vào chương trình quan trắc ngay từ đầu.

Còn một bài học nữa từ chương trình sàng lọc 12 loài cho bãi lọc xử lý nước thải trại lợn ở Quảng Đông, Trung Quốc. Ba loài tốt nhất là cỏ Vetiver, thuỷ trúc Cyperus alternifolius và Cyperus exaltatus. Nhưng khi thử tiếp, Cyperus exaltatus héo và ngủ vào mùa thu, mãi tới mùa xuân mới hồi lại (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 55). Một bãi lọc cần cây làm việc quanh năm, nên loài xếp hạng cao trong phòng thí nghiệm mà nghỉ mất một mùa thì vẫn là lựa chọn sai.

Cách sàng lọc đó không chỉ nằm trong tài liệu. Trên chính hồ xử lý nước thải ở Thanh Hoá trong các tấm ảnh của bài này, cỏ Vetiver và thuỷ trúc được trồng song song trên hai dãy bè liền nhau để so khả năng thích nghi của hai loài trong cùng một nguồn nước. Với nước thải của bạn, cách cho câu trả lời chắc chắn cũng vậy: thử vài loài ngay trên chính nguồn nước đó trước khi trồng đại trà.

Ba tiêu chí nên dùng khi chọn loài

Từ những gì ở trên, bạn nên chấm loài theo đúng ba tiêu chí này, xếp theo thứ tự:

  1. Sống được trong nồng độ nước thải thật của bạn. Đây là tiêu chí loại, không phải tiêu chí cộng điểm. Loài chết trong tháng đầu thì mọi ưu điểm khác đều vô nghĩa.
  2. Cho sinh khối nhanh và đều quanh năm. Sinh khối là thứ mang chất bẩn ra khỏi nước, và cây nghỉ một mùa thì hệ cũng nghỉ một mùa.
  3. Không phát tán ra ngoài phạm vi công trình. Tiêu chí này hay bị bỏ quên cho tới lúc phát sinh vấn đề.

Tiêu chí thứ ba đáng nói thêm, vì ở Việt Nam ai cũng biết lục bình phủ kín kênh rạch thế nào. Giống cỏ Vetiver được chọn cho mục đích bảo vệ môi trường thuộc dòng Nam Ấn: cây có ra hoa nhưng không kết hạt, đồng thời không có thân bò và không có thân rễ, nên nó không tự lan sang chỗ khác (Danh và cộng sự, 2012, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 35). Trong hệ đánh giá nguy cơ cỏ dại PIER, cỏ Vetiver được xếp mức Rủi ro thấp với điểm âm 8 (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 35).

Bạn cần bao nhiêu diện tích: những con số để ước lượng trước

Câu hỏi đầu tiên của mọi chủ đầu tư là diện tích. Năm con số dưới đây đủ để bạn ước lượng sơ bộ trước khi mời tư vấn, và cũng đủ để bạn thẩm định lại con số mà đơn vị tư vấn đưa ra.

Quy môKết quả đo đượcNguồn
Thuỷ canh, dòng chảy 20 lít mỗi phút qua rễ1 m² cỏ xử lý 30.000 mg nitơ và 3.575 mg phốt pho trong 8 ngày(Hart và cộng sự, 2003, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 27)
Ruộng cỏ nơi giàu dinh dưỡngLấy đi 740 kg nitơ và 110 kg phốt pho mỗi ha trong 3 tháng(Vieritz và cộng sự, 2003, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 27)
Nhà máy chế biến thực phẩm, 475 triệu lít mỗi nămCần 72,5 ha nếu trồng cỏ Vetiver, 104 ha với cỏ kikuyu, 153 ha với cỏ RhodesMô hình MEDLI (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 36)
Trạm xử lý nước thải thị trấn Boonah, ÚcPhương án cỏ chăn thả cần 50–60 ha, phương án cỏ Vetiver rút còn 4–5 ha(Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 49)
Cụm dân cư 300 người tại Tangier, Ma-rốcBể bê tông 100 m² sâu 1 m, 500 cây, xử lý 30 m³ nước thải mỗi ngày(Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 45)

Hàng thứ ba là hàng đáng đọc kỹ nhất, vì nó là phép so trên cùng một bài toán, với cùng lượng nước thải và cùng nồng độ nitơ và phốt pho, chỉ thay loài cây thì diện tích đất cần thiết chạy từ 72,5 ha lên tới 153 ha. Chọn loài không phải chuyện học thuật, nó là chênh lệch tám mươi héc-ta tiền thuê đất.

Trạm Boonah cho thấy phần còn lại của bức tranh. Sau 15 tháng kể từ khi trồng, 4 ha cỏ đã hấp thụ trọn 500 đến 600 m³ nước thải mỗi ngày, và quan trắc nước ngầm cho thấy gần như không có nước rò xuống trong mùa khô, rất ít trong mùa mưa (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 49).

Bộ tiêu chuẩn thiết kế năm 2026 cho phép bạn đi từ hướng ngược lại, tức tính diện tích từ lưu lượng. Suất tải thuỷ lực khuyến nghị là 10 đến 25 mm mỗi ngày với hệ chảy mặt và 20 đến 40 mm mỗi ngày với hệ chảy ngầm; lòng bể sâu 0,2 đến 0,4 m cho hệ chảy mặt và 0,4 đến 0,6 m cho hệ chảy ngầm (TVNI, DS-TERTIARY-TREATMENT v1, 2026, tr. 7).

Mật độ trồng là 10 đến 15 cây mỗi mét dài nếu trồng theo hàng, hoặc 4 đến 6 cây mỗi mét vuông nếu trồng thành khối, và bốn đến sáu tuần đầu phải giữ mực nước nông 5 đến 10 cm (TVNI, DS-TERTIARY-TREATMENT v1, 2026, tr. 8). Với 30 m³ nước thải mỗi ngày và suất tải 20 mm mỗi ngày, phép chia cho ra khoảng 1.500 m² mặt bể.

> Ghi chú. Đây là số tham chiếu để bạn ước lượng, không phải số thiết kế. Diện tích thật của công trình phụ thuộc vào khí hậu tại chỗ, loại đất, chiều sâu mực nước ngầm, nồng độ thật của nước thải và mức xả cho phép mà cơ quan quản lý áp cho bạn. Bạn nên yêu cầu đơn vị tư vấn chạy mô hình với đúng số liệu của mình rồi mới chốt diện tích.

Nhìn qua lan can sắt xuống các dãy bè cỏ Vetiver xanh phủ kín mặt hồ xử lý nước thải, nhà máy lọc hoá dầu và bồn chứa phía xa
Mặt hồ đã được phủ kín. Lượng chất bẩn lấy được phụ thuộc vào sinh khối cây tạo ra, nên độ phủ và tốc độ lớn của cây là thứ cần theo dõi.

Những giới hạn bạn phải biết trước khi chốt phương án

Bốn giới hạn dưới đây quyết định phương án của bạn có chạy được hay không, nên bạn nên cân nhắc hết chúng trước khi chốt thiết kế.

Thứ nhất, có những chất cây không xử lý nổi. Ví dụ rõ nhất là florua. Tại một cộng đồng ở Guarataro, Venezuela, nơi nước ngầm nhiễm florua vượt ngưỡng cho phép, thí nghiệm dùng cỏ Vetiver ban đầu hạ được florua từ 2,72 xuống 2,22 mg/l, nhưng các lần đo sau đó không còn khác biệt đáng kể. Phân tích mô cây cho thấy cây có tích florua thật, chỉ là lượng tích không đủ để làm sạch nước.

Cũng trong thí nghiệm đó, nitơ và phốt pho lại giảm trên 90% (Ruiz và cộng sự, 2013, trích trong Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 29). Cùng một loài cây và cùng một nguồn nước, chất này xử lý được còn chất kia thì không.

Với kim loại thì bức tranh sáng hơn: một thí nghiệm năm 2021 trên nước thải mạ điện nhiễm crôm và niken ở ba mức nồng độ đã đo được cả tốc độ cây hấp thu lẫn tốc độ cây thải kim loại ra, nên bạn ước lượng được chu kỳ cắt sinh khối thay vì đoán (Nugroho và cộng sự, 2021).

Thứ hai, vượt ngưỡng chịu đựng thì cây chết. Đây là lý do bạn phải có kết quả phân tích nước thải trong tay trước khi chọn loài, thay vì sau. Trường hợp lục bình chết ở mức BOD 120,8 mg/l ở phần trên là ví dụ điển hình.

Thứ ba, cây cần thời gian. Hệ thực vật không chạy ngay như một cái công tắc. Cây phải bén rễ và tạo đủ sinh khối thì hiệu suất mới lên tới mức thiết kế, và mốc đó thường tính bằng vài tháng. Trạm Boonah đạt công suất đầy đủ sau 15 tháng. Nếu bạn đang cần hạ một chỉ tiêu gấp trong vài tuần thì đây là công cụ sai.

Thứ tư, sinh khối phải được cắt và mang đi. Cây giữ chất bẩn trong thân lá, nên nếu bạn để cây tàn tại chỗ thì phần lớn chất bẩn quay trở lại nước. Cắt định kỳ và đưa sinh khối ra khỏi hệ là việc vận hành bắt buộc.

> Ghi chú. Xử lý bằng thực vật hiếm khi đứng một mình. Trong hầu hết công trình, nó đóng vai bậc hoàn thiện, đặt sau các bậc xử lý cơ học và sinh học, để hạ nốt nitơ, phốt pho, kim loại và phần BOD còn lại. Nước xả ra môi trường vẫn phải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp cho loại hình sản xuất của bạn, và bạn vẫn phải quan trắc theo quy định.

Cận cảnh các khóm hom cỏ Vetiver cắt ngọn cấy đều trên bè nổi khung ống nhựa phủ lưới trên mặt nước hồ
Hom được cắt ngọn trước khi cấy lên bè. Lưới phủ phía trên giữ cho cây không bị chim rút khỏi bè trong những tuần đầu.

OlaFarm cấp giống cho dự án xử lý nước như thế nào

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver, và phần lớn công việc của chúng tôi với các dự án xử lý nước là cấp giống đúng dòng, đúng quy cách và đúng tiến độ của công trường.

Chúng tôi đang có ba dòng giống là Monto, Songkhla 3 và HB06. Với phần lớn dự án xử lý ô nhiễm, chúng tôi khuyên bạn chọn HB06, đây là dòng OlaFarm tuyển chọn trong nước và tự công bố lưu hành theo quy định.

Giống cung cấp ở hai quy cách. Rễ trần hợp với nơi đã có sẵn độ ẩm và nền còn màu, còn bầu ươm hợp với nơi khắc nghiệt và với việc cấy lên bè, vì cây đã có bộ rễ riêng trong bầu nên chịu được cú sốc khi chuyển sang môi trường mới. Vườn của chúng tôi rộng khoảng 6 ha và xuất được khoảng 80.000 cây mỗi ngày, nên đơn vài trăm nghìn cây cho một hồ xử lý là quy mô chúng tôi chạy thường xuyên.

Với hồ xử lý nước thải của nhà máy lọc hoá dầu tại Thanh Hoá năm 2026 trong các tấm ảnh của bài này, OlaFarm cấp giống và tư vấn phương án, phần thi công do đơn vị khác thực hiện. Nếu bạn chưa rõ cách làm bè hay cách cấy hom, chúng tôi tư vấn miễn phí cho bạn.

Báo giá giống cỏ Vetiver. Giá giống hiện ở khoảng 450–650 đồng mỗi tép rễ trần và 2.000–4.000 đồng mỗi bầu ươm. Đơn nhỏ nằm ở mức trên của khoảng, còn dự án khối lượng lớn nằm ở mức dưới. Giá cạnh tranh được là vì cây bán thẳng từ vườn của chúng tôi, không qua trung gian, và giống là dòng OlaFarm tự chọn lọc từ năm 2016. Trong giờ làm việc, yêu cầu báo giá thường được phản hồi trong khoảng 5 phút.

Dải bè cỏ Vetiver dài chạy giữa hồ xử lý nước thải lót bạt đen, đồi cây và sườn đất đỏ phía xa
Một dải bè chạy dọc giữa hồ. Bố trí kiểu này buộc dòng nước đi hết chiều dài bè trước khi tới cửa ra.

Tóm lại, xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật là ba lựa chọn chồng lên nhau: loài cây, kiểu bố trí và diện tích. Loài quyết định bạn sống sót trong nồng độ nào, kiểu bố trí quyết định bạn có phải xây mới hay không, và hai thứ đó cộng lại mới ra diện tích. Hai con số đáng ghi lại từ vụ đầu là ngày cây phủ kín mặt hệ và kết quả quan trắc ở tháng thứ ba.

Hãy cho OlaFarm biết thể tích nước thải mỗi ngày, kết quả phân tích nước và hiện trạng mặt bằng của bạn. Chúng tôi sẽ tư vấn dòng giống, quy cách và lượng cây phù hợp cho bạn, rồi gửi báo giá theo đúng khối lượng đó. Bạn có thể liên hệ OlaFarm hoặc gửi yêu cầu báo giá.

Câu hỏi thường gặp về xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật

Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật có giúp nước thải của tôi đạt quy chuẩn xả thải không?

Trong nhiều trường hợp là có, nhưng với vai trò bậc hoàn thiện, chứ nó không đứng một mình. Hệ thực vật hạ rất tốt nitơ, phốt pho, kim loại và phần BOD còn lại sau các bậc xử lý phía trước. Tuy nhiên, nếu nước thải của bạn còn nguyên tải lượng đầu vào thì bạn vẫn cần các bậc cơ học và sinh học đứng trước. Hãy gửi cho OlaFarm kết quả phân tích nước và quy chuẩn đang áp cho bạn, chúng tôi sẽ nói thẳng là hệ thực vật gánh được tới đâu trong trường hợp của bạn.

Tôi thả lục bình xuống hồ có được không?

Được, nếu nước của bạn loãng và hồ nằm kín trong khuôn viên nhà máy. Tuy nhiên bạn nên cân nhắc hai điểm. Lục bình chết khá nhanh khi BOD lên cao, và trong một thí nghiệm trên nước thải trại lợn nó chết sau 8 ngày. Ngoài ra lục bình phát tán rất mạnh, nên nếu hồ của bạn có đường thông ra kênh rạch bên ngoài thì đây là rủi ro bạn phải tính trước.

Bè nổi và bãi lọc trồng cây khác nhau ở chỗ nào?

Khác ở chỗ cây đứng trên cái gì. Bãi lọc trồng cây có nền đất hoặc tầng vật liệu lọc và nước chảy xuyên qua tầng đó, nên bạn phải xây mới cả khu. Bè nổi thì cây nằm trên khung nổi và rễ thả trực tiếp xuống nước, bỏ hẳn phần nền, nên bạn dùng được ngay hồ đang có mà không phải tháo nước hay động vào kết cấu hồ. Nếu bạn đã có hồ thì bè nổi thường là phương án nhanh và rẻ hơn.

Tôi phải chờ bao lâu mới thấy được kết quả?

Bạn thấy chuyển biến về nitơ và phốt pho trong vài tuần đầu, nhưng hệ chỉ đạt công suất thiết kế khi cây đã tạo đủ sinh khối. Ở trạm xử lý Boonah, mốc đó là 15 tháng sau khi trồng. Bạn nên lên kế hoạch quan trắc theo mốc quý chứ không theo mốc tuần, và đừng kết luận hệ thất bại chỉ sau một tháng.

Xử lý ô nhiễm nước bằng thực vật có lấy được kháng sinh trong nước thải không?

Có, ít nhất là trong điều kiện thí nghiệm. Bãi lọc trồng cỏ Vetiver kiểu dòng chảy đẩy đã lấy được kháng sinh cùng lúc với nitơ và phốt pho (Panja và cộng sự, 2021). Đây là điểm đáng lưu ý vì các bậc xử lý thông thường không được thiết kế cho nhóm chất này. Tuy vậy bạn nên coi đây là kết quả trong nhà kính, và nếu chỉ tiêu kháng sinh quan trọng với bạn thì hãy thử trên chính nguồn nước của mình trước khi thiết kế cả hệ.

Cỏ Vetiver thả xuống hồ có lan ra thành cỏ dại không?

Không. Dòng giống được dùng cho mục đích bảo vệ môi trường là dòng Nam Ấn: cây ra hoa nhưng không kết hạt, đồng thời không có thân bò cũng không có thân rễ, nên nó chỉ lớn thành khóm tại chỗ được trồng. Cả ba dòng OlaFarm đang cung cấp là Monto, Songkhla 3 và HB06 đều ra hoa và đều không kết hạt. Trong hệ đánh giá nguy cơ cỏ dại PIER, cỏ Vetiver được xếp mức Rủi ro thấp.

Tài liệu tham khảo

  • Arivukkarasu, D. và Sathyanathan, R. (2024). A sustainable green solution to domestic sewage pollution: optimizing floating wetland treatment systems. Water Cycle. https://doi.org/10.1016/j.watcyc.2024.05.002
  • Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân (2016). Cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides) và các ứng dụng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ.
  • Ngô Thuỵ Diễm Trang, Võ Thị Phương Thảo, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Nguyễn Phương Thịnh, Downes, N. K., Pachova, N. và Jegatheesan, V. (2023). Hướng dẫn thiết kế đất ngập nước nổi xử lý nước — Quan điểm của Việt Nam. Trường Đại học Cần Thơ.
  • Nugroho, A. P., Butar Butar, E. S., Priantoro, E. A., Sriwuryandari, L. và Pratiwi, Z. B. (2021). Phytoremediation of electroplating wastewater by vetiver grass (Chrysopogon zizanoides L.). Scientific Reports, 11. https://doi.org/10.1038/s41598-021-93923-0
  • Panja, S., Sarkar, D., Zhang, Z. và Datta, R. (2021). Removal of antibiotics and nutrients by vetiver grass (Chrysopogon zizanioides) from a plug flow reactor based constructed wetland model. Toxics, 9(4), 84. https://doi.org/10.3390/toxics9040084
  • The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Tertiary Treatment of Residential and Institutional Wastewater (DS-TERTIARY-TREATMENT), v1, ngày 19/01/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
  • Truong, P. và Lưu Thái Danh (2015). The Vetiver System for Improving Water Quality: Prevention and Treatment of Contaminated Water and Land (ấn bản 2). The Vetiver Network International.

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *