Trang chủ › Kiến thức › Sạt lở đất là gì? Nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và cách phòng chống
Sạt lở đất là gì? Nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và cách phòng chống
Tóm tắt
Bài này giúp bạn gọi đúng tên hiện tượng đang gặp, đọc được những dấu hiệu báo trước một vụ sạt lở đất, hiểu vì sao mái dốc mất ổn định, và biết nhóm biện pháp nào hợp với công trình của mình.

Phần lớn các vụ sạt lở đều có báo trước, đôi khi báo trước hàng năm trời. Chỉ là dấu hiệu sớm nhất lại nằm ở những chỗ ít ai nghĩ tới, còn lúc mặt đất đã nứt và cửa nhà đã kẹt thì thời gian còn lại chỉ tính bằng giờ. Bài này đi từ cơ chế tới dấu hiệu, rồi mới tới biện pháp.
→ Cỏ Vetiver là gì và làm được những gì
Nội dung bài
- Sạt lở đất là gì, khác sụt lún và trượt lở ra sao
- Vì sao một mái dốc đang yên lành lại mất ổn định
- Ba nhóm nguyên nhân gây sạt lở đất
- Dấu hiệu nhận biết sạt lở đất, chia làm hai tầng
- Sạt lở đất ở Việt Nam đang ở mức nào
- Sạt lở đất trên thế giới đang ở mức nào
- Phòng chống sạt lở đất đi theo ba giai đoạn
- Trồng cỏ Vetiver trên mái dốc làm được gì và không làm được gì
- Câu hỏi thường gặp về sạt lở đất
1. Sạt lở đất là gì, khác sụt lún và trượt lở ra sao
Sạt lở đất là hiện tượng đất đá trên một sườn dốc bị rời ra và di chuyển xuôi dốc dưới tác động của trọng lực. Định nghĩa nghe đơn giản, nhưng chữ “di chuyển” mới là chỗ đáng chú ý: khối đất có thể trôi rất chậm, chậm tới mức mắt thường không nhận ra trong nhiều tháng, mà cũng có thể đổ ập chỉ trong vài giây.
Trong nghề, người ta không gọi chung tất cả là “sạt lở”. Cách phân loại phổ biến chia theo hai trục: khối vật liệu di chuyển theo kiểu gì, và nó là đá hay đất.
| Kiểu di chuyển | Trong đá | Trong đất |
|---|---|---|
| Đổ lở | Đổ đá | Sụt đất |
| Trượt xoay | Trượt xoay trong đá | Trượt xoay trong đất |
| Trượt phẳng | Trượt phẳng trong đá | Trượt bùn đá |
| Chảy chậm | Đá oải, đá trườn | Đất oải, đất trườn |
| Chảy nhanh | — | Đất chảy · dòng bùn (nước chiếm khoảng 30%) · dòng bùn đá |
| Hỗn hợp | Kết hợp hai hoặc nhiều kiểu di chuyển |
Bảng phân loại các kiểu mất ổn định mái dốc, theo cẩm nang kỹ thuật của Mạng lưới Vetiver Quốc tế, tr.46.
Đọc bảng này thì thấy ngay chỗ nhiều người nhầm. Sụt đất thuộc nhóm đổ lở: khối đất mất chỗ tựa bên dưới rồi tụt thẳng xuống. Trượt lại là kiểu di chuyển khác hẳn, khối đất trôi trên một mặt trượt, xoay hoặc phẳng. Còn lũ bùn đá mà báo chí hay đưa tin sau mưa lớn thì nằm ở nhóm chảy nhanh, khi lượng nước trong khối đất đủ nhiều để nó chảy chứ không còn trượt nữa.
Bốn kiểu hay gặp nhất trông như thế này:

Phân biệt được ba nhóm này không phải chuyện chữ nghĩa. Mỗi kiểu có một cách xử lý riêng, và chọn sai nhóm thì tiền bỏ ra gần như không có tác dụng. Thực tế còn khó hơn bảng: phần lớn các vụ là hỗn hợp, tức hai hoặc vài kiểu di chuyển cùng xảy ra một lúc, trong cả đất lẫn đá.
2. Vì sao một mái dốc đang yên lành lại mất ổn định
Mái dốc lúc nào cũng là cuộc giằng co giữa hai nhóm lực. Một bên là lực gây trượt, chủ yếu là trọng lượng của chính khối đất, càng cao và càng dốc thì càng lớn. Bên kia là lực kháng trượt, tức sức bền của đất đá, gồm lực dính kết giữa các hạt và lực ma sát khi các hạt cọ vào nhau.
Tỷ số giữa hai lực đó gọi là hệ số an toàn, viết tắt là SF. Mái dốc được coi là ổn định khi SF lớn hơn 1, và thực tế thiết kế thường đòi ít nhất 1,2 đến 1,3 (cẩm nang TVNI, tr.46). Công trình càng quan trọng, hậu quả nếu sập càng lớn, thì hệ số phải càng cao.
Nói cách khác, một mái dốc trông vẫn nguyên vẹn có thể đang ở SF bằng 1,05. Nó chưa sập, nhưng nó không còn chỗ dự phòng nào nữa.


Nước là thứ quyết định, không phải độ dốc
Nếu phải chọn một yếu tố duy nhất khiến mái dốc sập, câu trả lời là nước. Nó xói vào chân dốc, làm khối đất phía trên mất chỗ tựa. Nó lấp đầy các lỗ rỗng và khe nứt sẵn có trong đất đá, khiến khối đất nặng thêm. Nó tương tác với đất đá, làm chúng yếu dần theo thời gian.
Và quan trọng hơn cả, nước gây ra áp lực nước lỗ rỗng làm giảm sức bền kháng cắt của đất. Những thay đổi đột ngột của áp lực này, cả khi tăng lẫn khi giảm, được xem là yếu tố quyết định gây ra trượt lở (cẩm nang TVNI, tr.45).

Vế “cả khi giảm” giải thích một chuyện khiến nhiều người ngạc nhiên: vì sao mái dốc lại sập vào lúc trời đã tạnh, hoặc sau khi hồ chứa vừa rút nước. Lúc nước rút nhanh, áp lực trong lòng đất chưa kịp cân bằng, và chính độ chênh đó đẩy khối đất đi.
3. Ba nhóm nguyên nhân gây sạt lở đất
Nguyên nhân sạt lở đất thường được xếp thành ba nhóm. Cách chia này của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, và nó tiện ở chỗ giúp bạn biết nhóm nào can thiệp được, nhóm nào đành chịu.
Nhóm địa chất là bản chất của vật liệu tại chỗ: đất đá yếu hoặc nhạy cảm, đá đã phong hóa, đá bị nứt nẻ hoặc cắt xẻ, các lớp đá nằm nghiêng đổ ra phía ngoài mái dốc, hai lớp đất cạnh nhau chênh nhau nhiều về độ thấm hoặc độ cứng. Nhóm này có sẵn trước khi bạn đến, và chỉ khảo sát địa chất mới đọc được.
Nhóm địa hình và tự nhiên gồm những gì đang diễn ra trên sườn dốc: dòng chảy hoặc sóng xói vào chân dốc, xói ngầm trong lòng đất, vật liệu chất thêm lên đỉnh dốc, thảm thực vật mất đi vì cháy hoặc hạn, đất bị làm yếu qua các chu kỳ khô ẩm.
Nhóm nhân sinh gây ra nhiều vụ nhất ở Việt Nam, và cũng là nhóm duy nhất bạn kiểm soát được: đào xúc chân mái dốc, chất tải lên đỉnh dốc, phá rừng, tưới tiêu, khai khoáng, rung động từ máy móc, nước rò rỉ từ đường ống.
Trượt lở vốn là hiện tượng tự nhiên, xảy ra ở cả nơi có người lẫn nơi không có người. Nhưng khi con người làm biến đổi địa hình theo cách không lường trước, cộng thêm một trận mưa bão lớn, hậu quả nặng hơn hẳn.
Ở đây bài viết chỉ dừng ở mức nhận diện nhóm. Muốn đi sâu vào từng nguyên nhân và bản đồ vùng nguy cơ, mời đọc bài riêng về nguyên nhân sạt lở đất.
4. Dấu hiệu nhận biết sạt lở đất, chia làm hai tầng
Đây là phần đáng đọc kỹ nhất. Dấu hiệu chia làm hai tầng, và người ta hay chỉ nhìn tầng thứ hai, lúc đã quá muộn.
Tầng một: dấu hiệu của một khu vực có nguy cơ
Những dấu hiệu này tồn tại quanh năm, đọc được vào ngày nắng ráo, và là thứ bạn nên soi khi chọn đất hoặc nghiệm thu một mái dốc mới thi công:
- Địa hình sườn dốc gồ ghề, lồi lõm bất thường thay vì phẳng đều.
- Cây cối trên sườn đó trẻ hơn hẳn cây xung quanh. Đây là dấu hiệu tinh nhất trong cả danh sách: rừng non giữa rừng già thường có nghĩa chỗ ấy đã trượt một lần rồi, cây cũ đi theo đất và cây mới mọc lại sau.
- Nước ngầm thấm rỉ ra mặt dốc, nhất là khi vệt thấm xuất hiện thành hàng ngang.
- Các lớp đá nằm nghiêng đổ ra phía ngoài đường hoặc ra phía mặt thoáng.
- Vách taluy dựng đứng ngay sau nhà, thường do đào xúc lấy mặt bằng.
(Bốn dấu hiệu đầu theo cẩm nang TVNI, tr.47.)
Tầng hai: dấu hiệu sắp trượt, tính bằng giờ
Khi những dấu hiệu dưới đây xuất hiện, khối đất đã bắt đầu chuyển động. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ liệt kê chúng trong tài liệu cảnh báo cộng đồng:
- Cửa ra vào và cửa sổ bỗng kẹt, khó đóng mở.
- Vết nứt mới trên tường, trần, nền hoặc móng nhà.
- Vết nứt, chỗ phồng hoặc chỗ sụt mới trên mặt đất, mặt đường, sân bê tông.
- Cột điện nghiêng, dây điện chùng hẳn xuống hoặc căng bất thường; hàng rào méo; cây trên sườn đồi nghiêng đi.
- Nước suối gần đó đang trong bỗng chuyển đục, hoặc lưu lượng tăng vọt rồi giảm đột ngột.
- Tiếng gỗ gãy, tiếng đá va nhau, tiếng ì ầm dưới lòng đất, đặc biệt khi tiếng động to dần.
Ba dấu hiệu cuối là loại cần rời đi ngay chứ không phải đứng lại xem. Một khối trượt di chuyển nhanh tạo ra tiếng ầm và rung mặt đất gần giống một đoàn tàu hàng đang chạy qua.
Nếu bạn nhận ra bất kỳ dấu hiệu nào ở tầng hai, việc cần làm là báo chính quyền địa phương và liên hệ đơn vị có chuyên môn địa kỹ thuật. Không có biện pháp trồng cỏ hay xây kè nào kịp cứu một mái dốc đã bắt đầu chuyển động.
5. Sạt lở đất ở Việt Nam đang ở mức nào
Con số sát nghề nhất đến từ ngành đường bộ. Theo thống kê của Cục Đường bộ Việt Nam, riêng năm 2025 mưa bão đã gây ra 5.173 vị trí sạt taluy dương trên các quốc lộ do bốn Khu Quản lý đường bộ trực tiếp quản lý, tổng khối lượng đất đá gần 1,7 triệu mét khối, cùng 166 vị trí sạt taluy âm. Con số ấy mới chỉ đếm quốc lộ trung ương quản lý, chưa tính đường tỉnh, đường huyện và mái dốc sau nhà dân.
Sạt lở tập trung trên Quốc lộ 6, đường Hồ Chí Minh, nhánh Tây đường Hồ Chí Minh và đường Trường Sơn Đông. Danh sách này gần như trùng với cảnh báo đã có từ gần hai thập kỷ trước, khi riêng tuyến đường Hồ Chí Minh từ Hà Tĩnh đến Kon Tum đã có gần 200 km nguy cơ trượt lở nghiêm trọng (cẩm nang TVNI, tr.43). Cùng những đoạn đường, cùng một vấn đề, sau gần hai mươi năm.
Hai vụ gần đây cho thấy hai kiểu rủi ro khác hẳn nhau. Làng Nủ (Lào Cai), rạng sáng 10/9/2024: sau bão Yagi, khối đất đá từ núi Con Voi ập xuống thôn, chỉ trong khoảng năm phút xoá sổ gần 40 ngôi nhà, 67 người chết và mất tích. Đèo Khánh Lê, Quốc lộ 27C, đêm 16 rạng sáng 17/11/2025: đá nặng hàng chục tấn rơi trúng xe khách, 6 người chết, tuyến đèo Nha Trang – Đà Lạt phong toả hơn một tháng.
Một bên là dòng bùn đá đổ xuống khu dân cư, đi rất xa và không kịp chạy. Một bên là đá rơi xuống mặt đường, có thể trúng bất cứ ai đang qua đèo giữa trời mưa. Cùng gọi là sạt lở đất, nhưng cách phòng khác nhau hoàn toàn.
Tính chung, thiên tai năm 2025 làm 468 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước khoảng 100.000 tỷ đồng. Trong các loại thiên tai, lũ quét và sạt lở đất chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp nhưng có tỷ lệ thiệt hại về người cao nhất, vì diễn biến đột ngột và rất khó dự báo.
Một việc nên làm trước khi thiết kế mà ít người hỏi tới: Đề án theo Quyết định 351/QĐ-TTg ngày 27/3/2012 đã lập bản đồ hiện trạng trượt lở tỷ lệ 1:50.000 cho 25 tỉnh và bản đồ phân vùng cảnh báo cho 15 tỉnh, đã bàn giao cho địa phương. Nếu công trình của bạn nằm trong số đó, bộ bản đồ này tra được và không mất tiền.
6. Sạt lở đất trên thế giới đang ở mức nào
Bức tranh toàn cầu rõ nhất nằm trong Cơ sở dữ liệu sạt lở gây chết người toàn cầu của Melanie Froude và David Petley, công bố trên tạp chí Natural Hazards and Earth System Sciences năm 2018. Trong 13 năm từ 2004 đến 2016, họ ghi nhận 4.862 vụ sạt lở gây chết người, làm 55.997 người thiệt mạng, và châu Á chiếm khoảng 75% số vụ.
Tỷ lệ 75% ấy không ngẫu nhiên. Châu Á hội tụ đủ ba thứ: địa hình đồi núi trẻ, mưa gió mùa tập trung, và mật độ dân cư cao ngay trên những sườn dốc đó. Việt Nam nằm trọn trong cả ba.
Nhưng con số đáng lo nhất không phải tổng số người chết. Nhóm nghiên cứu tách riêng những vụ do hoạt động của con người gây ra, tức xây dựng, khai khoáng trái phép và xẻ đồi bạt núi: nhóm này chiếm 16% dữ liệu, làm 3.725 người chết, và tăng lên có ý nghĩa thống kê qua 13 năm. Kết luận của họ đáng để bất cứ ai làm hạ tầng vùng đồi núi đọc kỹ: xáo trộn do con người gây ra có thể còn tai hại hơn khí hậu đối với số vụ sạt lở trong tương lai.
Petley vẫn cập nhật cơ sở dữ liệu này hằng năm. Năm 2025 ông ghi nhận 663 vụ, 5.091 người chết, năm tệ thứ hai kể từ khi bộ dữ liệu bắt đầu, phần lớn do bão Senyar ở Indonesia và bão Ditwah ở Sri Lanka. Số vụ dao động mạnh giữa các năm vì phụ thuộc vào việc bão lớn có đổ vào vùng đông dân hay không, nhưng đường xu hướng dài hạn đi lên, và phần đi lên rõ nhất là phần do con người gây ra.
7. Phòng chống sạt lở đất đi theo ba giai đoạn
Giảm nhẹ trượt lở thường chia làm ba giai đoạn: xác định khu vực có nguy cơ, phòng ngừa, rồi mới đến xử lý và khắc phục hậu quả. Cả ba đều đòi một điều kiện chung là hiểu đủ về điều kiện và đặc điểm địa chất nơi đó.
Điều đáng nói nằm ở thứ tự. Phòng ngừa đỡ tốn kém và hiệu quả hơn nhiều so với xử lý hậu quả (cẩm nang TVNI, tr.47). Đây là câu ngắn nhưng quyết định phần lớn ngân sách của một dự án: gia cố một mái dốc còn lành rẻ hơn hẳn khôi phục một mái dốc đã trượt.
Các biện pháp phòng ngừa chia làm hai nhóm. Nhóm công trình gồm thoát nước ngầm và nước mặt, giảm bớt độ cao và góc dốc taluy, xây tường chắn, neo đá, phun vữa bê tông, và trồng cây cỏ. Nhóm phi công trình là quy hoạch sử dụng đất, hạn chế xây dựng ở vùng nguy cơ cao, cảnh báo sớm và di dời.
Có một nguyên tắc dễ bị bỏ qua khi chọn trong nhóm công trình. Những biện pháp này chỉ nên coi là bổ sung, hỗ trợ thêm cho mái dốc sau khi đã đảm bảo rằng bản thân mái dốc đã ổn định, hoặc ít nhất là tạm thời ổn định. Đắp thêm biện pháp lên một mái dốc đang trượt không giữ được nó.
Giới hạn của công trình cứng
Ở Việt Nam, biện pháp phổ biến nhất vẫn là công trình cứng và cục bộ: kè đá hộc hoặc bê tông, mỏ hàn, tường chắn. Chúng đã được áp dụng hàng mấy thập kỷ, và sạt lở vẫn tiếp tục. Có mấy lý do kỹ thuật đứng sau.
Kè cứng chỉ giảm được xói lở bề mặt. Nếu mặt trượt nằm sâu bên dưới, kè không có tác dụng gì. Tường chắn bê tông thì phần lớn là biện pháp thụ động, đứng chờ trượt lở xảy ra, và khi trượt lở thật sự xảy ra thì tường đổ theo. Điều này đã thấy ở khá nhiều vị trí dọc đường Hồ Chí Minh.
Với bờ sông và bờ biển còn thêm một vấn đề nữa. Công trình cứng không hấp thụ được năng lượng sóng và dòng chảy, mà làm dòng chảy rối thêm. Chúng cũng thường kết thúc đột ngột, không chuyển tiếp từ từ sang phần bờ tự nhiên, nên kết quả là đẩy tai biến xói lở sang một vị trí khác, phía bờ đối diện hoặc phía hạ lưu.
Điều này không có nghĩa là bỏ công trình cứng, mà là chọn đúng chỗ dùng, và tính trước xói lở sẽ đi đâu sau khi bạn chặn nó lại ở đây.


8. Trồng cỏ Vetiver trên mái dốc làm được gì và không làm được gì
Một mái dốc mất ổn định theo hai đường: xói lở bề mặt, hoặc yếu điểm trong cấu trúc bên trong. Hai đường này nối với nhau. Xói lở bề mặt tạo ra các rãnh xói, rãnh xói khoét sâu dần, và về lâu dài chính nó dẫn tới trượt lở. Vì vậy bảo vệ bề mặt quan trọng ngang với gia cường cấu trúc, và nhiều trường hợp chỉ cần làm phần bề mặt là đủ, vừa hiệu quả vừa rẻ hơn hẳn.
Đó là chỗ lớp phủ thực vật phát huy tác dụng. Bộ rễ gia cường đất theo kiểu neo và đóng đinh, giữ các hạt đất lại với nhau. Rễ hút nước nuôi cây rồi trả lại khí quyển qua hô hấp, nhờ đó áp lực nước lỗ rỗng giảm theo. Thân lá giữ lại một phần nước mưa trước khi nó chạm mặt đất.
Với cỏ Vetiver, ba bộ phận của cây làm ba việc khác nhau trên cùng một mái dốc:

Nhưng lớp phủ thực vật cũng có mặt bất lợi, và bạn nên biết trước. Rễ ăn xuống có thể làm nứt thêm đất đá. Cây thân gỗ lớn làm mái dốc nặng thêm, và gió bão tác động lên tán cây rồi truyền xuống mái dốc, có khi bật cả gốc. Lớp phủ cũng làm tăng tính thấm của đất, tức là đưa nước vào sâu hơn.
Độ dốc quyết định việc trồng có khả thi không
| Độ dốc | Trồng cỏ | Trồng cây thân gỗ, cây bụi |
|---|---|---|
| 0 – 30° | Dễ mọc, kỹ thuật trồng thông thường | Dễ mọc, kỹ thuật trồng thông thường |
| 30 – 45° | Khó dần, có thể gieo hạt trộn sẵn với lớp đất phủ | Khó dần |
| Trên 45° | Cần áp dụng kỹ thuật đặc biệt | Nhìn chung chỉ thực hiện được trên các bậc, đường cơ mái dốc |
Theo cẩm nang TVNI, tr.50.
Bảng này là thứ nên xem trước khi hứa hẹn bất cứ điều gì với chủ đầu tư. Trên 45 độ, trồng cỏ vẫn làm được nhưng phải có kỹ thuật riêng, và chi phí không còn giống mái 25 độ nữa.
Còn một giới hạn nữa, ít người nói ra. Trên mái dốc vừa thi công xong, lớp đất mặt chưa cố kết lại, nên rãnh xói vẫn có thể phát triển ngay cả khi đã trồng cỏ. Vài tháng đầu là giai đoạn mong manh nhất, và đó là lý do nhiều kỹ sư mất lòng tin vào giải pháp thực vật rồi quay sang bê tông.
Vì sao cỏ Vetiver được chọn cho việc này
Các loại cây bản địa quen dùng ở Việt Nam đều có điểm yếu riêng khi đưa lên mái dốc. Tre mọc thành bụi nên không tạo được hàng rào kín, nước lũ len qua khoảng trống giữa các bụi rồi tập trung lại nên sức phá còn lớn hơn; rễ tre lại chùm và nông, chỉ xuống khoảng 1 đến 1,5 mét. Phi lao và dứa dại chủ yếu chắn gió, bộ rễ cũng không đủ sâu.
Cỏ Vetiver được chọn vì bộ rễ đâm thẳng đứng và sâu, tạo được hàng rào kín liên tục, chịu được thời tiết lẫn chất đất khắc nghiệt, và bén rễ nhanh nên rút ngắn được đúng giai đoạn mong manh vừa nói ở trên. Về tác dụng ổn định đất, nó hoạt động gần giống cây thân gỗ hơn là một loại cỏ thông thường.
Dù vậy, cẩm nang kỹ thuật của TVNI kết lại bằng một câu chúng tôi thấy đáng nhắc: cỏ Vetiver không phải là một công cụ vạn năng, và cần được tìm hiểu kỹ trước khi áp dụng. Nếu mái dốc của bạn có mặt trượt sâu, thiết kế phải do người có chuyên môn địa kỹ thuật lập, và cỏ chỉ là một lớp trong giải pháp tổng thể.
Muốn xem cơ chế rễ giữ đất và thông số kỹ thuật cụ thể, mời đọc kỹ thuật trồng cỏ Vetiver chống sạt lở và cỏ Vetiver chống xói mòn. Trường hợp công trình của bạn là mái taluy nền đường, bài gia cố mái taluy bằng cỏ Vetiver đi thẳng vào dạng kết cấu đó.

9. Câu hỏi thường gặp về sạt lở đất
Sạt lở đất và sụt lún đất có phải là một không?
Không. Sụt đất là kiểu đổ lở, khối đất mất chỗ tựa bên dưới rồi tụt thẳng xuống. Trượt lở là kiểu di chuyển khác, khối đất trôi trên một mặt trượt xoay hoặc phẳng. Chúng cần cách xử lý khác nhau, nên gọi đúng tên ngay từ đầu sẽ đỡ tốn tiền về sau.
Vì sao mái dốc sập khi trời đã tạnh mưa?
Vì thứ quyết định không phải nước mưa đang rơi, mà là áp lực nước trong các lỗ rỗng của đất. Áp lực này thay đổi chậm hơn thời tiết, và chính những thay đổi đột ngột của nó, cả khi tăng lẫn khi giảm, là yếu tố quyết định gây trượt lở. Sau mưa lớn hoặc sau khi hồ chứa rút nước nhanh là những lúc rủi ro cao.
Cửa nhà bỗng kẹt và tường nứt mới, có phải sắp sạt lở không?
Đó là hai trong số các dấu hiệu cảnh báo bạn không nên bỏ qua, nhất là nếu nhà nằm dưới chân một mái dốc hoặc sau một vách taluy dựng đứng. Bạn nên báo chính quyền địa phương và tìm đơn vị có chuyên môn địa kỹ thuật để khảo sát, thay vì tự trám vết nứt rồi ở tiếp.
Trồng cỏ có chống được sạt lở đất thật không?
Có, trong đúng phạm vi của nó. Cỏ bảo vệ bề mặt mái dốc, ngăn rãnh xói hình thành, và bộ rễ gia cường lớp đất phía trên. Với mái dốc mất ổn định do xói lở bề mặt, riêng biện pháp này thường đã đủ và rẻ hơn hẳn công trình cứng. Nhưng nếu mặt trượt nằm sâu dưới tầm với của rễ, cỏ không thay được giải pháp địa kỹ thuật.
Mái dốc dốc bao nhiêu thì còn trồng được cỏ?
Từ 0 đến 30 độ trồng bằng kỹ thuật thông thường. Từ 30 đến 45 độ khó dần, thường phải gieo hạt trộn với lớp đất phủ. Trên 45 độ vẫn trồng được nhưng cần kỹ thuật đặc biệt, và chi phí khác hẳn. Bạn nên xác định độ dốc thực tế trước khi lập dự toán.
Nên làm gì trước tiên nếu nghi khu đất của mình có nguy cơ sạt lở đất?
Trước hết là hỏi bản đồ hiện trạng trượt lở của tỉnh, nếu tỉnh bạn nằm trong 25 tỉnh đã được lập bản đồ. Sau đó khảo sát tại chỗ theo các dấu hiệu ở phần trên. Khi đã có kết quả khảo sát thì việc chọn biện pháp mới có căn cứ, và OlaFarm có thể tư vấn phần giống cùng cách bố trí hàng cỏ theo địa hình thực tế của bạn.
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




