Trang chủ › Xử lý ô nhiễm đất, nước › Phục hồi đất sau khai thác mỏ: nền hỏng theo kiểu nào thì chữa theo kiểu ấy

Phục hồi đất sau khai thác mỏ: nền hỏng theo kiểu nào thì chữa theo kiểu ấy

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 10/09/2026Đọc 11 phútChuyên mục Xử lý ô nhiễm đất, nước

Tóm tắt

Phục hồi đất sau khai thác mỏ là việc biến khối vật liệu còn lại trên hiện trường thành một chỗ cây sống được. Thứ nằm trên mặt là vật liệu moi lên từ dưới sâu, không còn là lớp đất mặt cũ, và nó hỏng theo ba kiểu khác nhau: chua sinh phèn, kiềm và natri, hoặc trơ và bị đầm chặt. Bài viết này giúp bạn nhận ra nền của mình thuộc kiểu nào trước khi quyết chi tiền.

Vách đá tại một mỏ than với dải than đen lộ ngang giữa vách, hai bên là sườn đá dăm sáng màu đã trồng dày các hàng cỏ Vetiver, thông con mọc trên mặt bằng dưới chân
Dải đen giữa vách và đá dăm sáng màu hai bên là hai loại vật liệu khác nhau; hàng cỏ bám trên phần đá dăm.

“Đất ở đây trồng được không?” Câu ấy hỏi đúng, nhưng chữ “đất” trong câu hỏi làm người ta hình dung sai thứ đang có trên hiện trường.

OlaFarm cấp giống cho những nền như thế, nên xin nói ngay chỗ khó. Đất mặt của khu mỏ đã bị bóc đi từ những năm đầu khai thác. Thứ còn lại là vật liệu moi lên từ dưới sâu, chưa từng có rễ cây nào đi qua, chưa từng tích được chút mùn nào.

Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn phân loại cái nền đang có trước khi chi tiền: nó hỏng theo kiểu nào, đo bằng chỉ tiêu gì, và việc nào phải làm xong trước khi cây giống xuống đất.

Nội dung bài

Sau khai thác, thứ còn lại trên mặt là gì?

Nó là đá, không phải đất.

Kết quả phân tích thành phần vật liệu trên các bãi thải than cho thấy đá thải chiếm trên 90% tổng lượng vật liệu, phần đất còn lại dưới 10% (Trần Miên, 2012). Cùng khảo sát ấy xếp đất đá bãi thải vào loại chua và nghèo dinh dưỡng, và đo được nhiệt độ không khí cao nhất trên bề mặt bãi thải là 39,8 độ C (Trần Miên, 2012).

Ba con số đó nói ba điều khác nhau. Rễ non không tìm được hạt đất để bám. Không có mùn thì không có kho dinh dưỡng nào để cây rút dần. Và mặt nền nóng tới mức hạt của các loài khác khó nảy mầm ngay trên đó.

Nền ấy không phải đất xấu. Nó là vật liệu địa chất chưa từng làm đất bao giờ. Phân biệt hai thứ này quan trọng, vì cách chữa đất xấu ngoài ruộng phần lớn không áp thẳng vào đây được.

Nền ấy hỏng theo mấy kiểu?

Ba kiểu, và mỗi kiểu chữa một cách.

Kiểu thứ nhất là chua. Vật liệu chứa khoáng lưu huỳnh nằm sâu dưới mặt đất thì yên, moi lên gặp không khí và nước là sinh axit, kéo pH xuống rất thấp và giải phóng nhôm ở dạng cây không chịu nổi. Sổ tay kỹ thuật ghi nhận cỏ Vetiver mọc tốt trên bãi thải vàng cũ có pH 2,7, và chịu được mức bão hoà nhôm 68 đến 86%, nhưng cây không sống ở mức bão hoà nhôm 90% đi kèm pH 2 (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 16). Nghĩa là có một đáy. Dưới đáy đó thì việc phải làm là nâng pH; trồng dày hơn không cứu được.

Kiểu thứ hai là kiềm và natri. Đây là kiểu hay bị bỏ sót vì nhìn ngoài không thấy gì. Đất có tỷ lệ natri trao đổi trên 15% đã bị coi là natri hoá mạnh; đất phủ mỏ than được ghi nhận ở pH 9,6 với tỷ lệ natri trao đổi 33%, magiê 2.400 mg mỗi kilôgam so với canxi chỉ 1.200 (Truong và cộng sự, 2002, tr. 5). Natri nhiều làm hạt đất rã ra rồi bít lại, nước không thấm xuống được. Phần sâu hơn về ngưỡng chịu mặn nằm ở bài đất nhiễm mặn.

Kiểu thứ ba là trơ và chặt. Nền không chua, không kiềm, chỉ đơn giản là đá dăm gần như không có mùn, và bị máy đầm tới mức rễ không xuống nổi. Tiêu chuẩn kỹ thuật ghi bước đầm nền theo thiết kế nằm trước bước trồng (Islam, 2025, tr. 39), nên trên phần diện tích sẽ trồng cây, độ chặt ấy là thứ phải nới lại trước khi cây giống xuống đất.

Hình vẽ ba mặt cắt cạnh nhau so sánh ba kiểu hỏng của nền đất sau khai thác mỏ gồm nền chua sinh phèn, nền kiềm nhiều natri và nền trơ bị đầm chặt, mỗi mặt cắt kèm chỉ tiêu phải đọc trước
Ba kiểu hỏng nhìn từ xa na ná nhau, nhưng chỉ tiêu phải đọc và việc phải làm thì khác hẳn.
Kiểu hỏngChỉ tiêu đọc trướcViệc làm có căn cứ
Chua sinh phènpH và mức bão hoà nhômXử lý độ chua trước; ở mức bão hoà nhôm 90% đi kèm pH 2 thì cỏ không sống (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 16)
Kiềm và natriTỷ lệ natri trao đổi; trên 15% đã là natri hoá mạnh (Truong và cộng sự, 2002, tr. 5)Phủ gốc làm tăng rõ tỷ lệ sống; thạch cao thì không có tác dụng với cỏ Vetiver (Truong và cộng sự, 2002, tr. 5)
Trơ và bị đầm chặtChất hữu cơ, đạm, và độ chặt của nềnNới độ chặt ở phần diện tích trồng cây; tăng lượng đất bón lót vào hốc (Trần Miên, 2012)

Đo gì trước khi chi tiền cho một hecta?

Đo ít thôi, nhưng đo đúng thứ chặn.

Theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, khách hỏi mua giống cho hiện trường mỏ đến theo cả hai kiểu: có khách gửi kèm phiếu phân tích đất, có khách chỉ mô tả hiện trạng bằng lời hoặc gửi ảnh. Hai kiểu ấy cần hai cách trả lời khác nhau.

Chưa có phiếu phân tích thì vẫn có một phép thử rẻ chạy sẵn ngoài hiện trường: nhìn xem có loài nào tự mọc lên không. Ghi chép tại các bãi thải mỏ kim cương Nam Phi cho thấy mặt bãi nung nóng khiến phần lớn hạt không nảy mầm được, và chỉ khi hàng cỏ tạo bóng làm mát bề mặt thì hạt của các loài khác mới mọc lên (TVNI, 2002, tr. 447). Chỗ nào trơ trọi qua nhiều mùa mưa thì bề mặt vẫn đang chặn. Phép thử ấy không nói cho bạn nền hỏng theo kiểu nào, nhưng nó nói có cần đi lấy mẫu hay không.

Có phiếu phân tích rồi thì đọc theo thứ tự chặn. pH và mức bão hoà nhôm quyết định cây có sống được không, nên đọc trước. Tỷ lệ natri trao đổi quyết định nước có thấm được không. Chất hữu cơ và đạm quyết định cây lớn nhanh hay chậm, nhưng chúng không giết cây, nên đọc sau. Kim loại nặng thì đọc để biết phải giữ vật liệu tại chỗ tới mức nào, không phải để chọn giống, và phần ngưỡng cụ thể nằm ở trang giống cỏ Vetiver xử lý ô nhiễm.

Một chi tiết dễ bỏ sót khi lấy mẫu: nền bãi thải không đồng nhất. Một xe đổ chỗ này và một xe đổ chỗ kia có thể là hai loại vật liệu lấy từ hai độ sâu khác nhau, nên một mẫu gộp cho cả bãi sẽ trung bình hoá mất đúng chỗ đang chặn. Ví dụ, một bãi nhận đất đá từ hai tầng khai thác: nửa bãi trung tính và nửa bãi chua nặng, gộp lại thành một mẫu thì phiếu trả về một con số pH trông vô hại, còn nửa bãi chua vẫn cứ giết cây sau khi trồng.

Chở đất mới về, hay làm cho nền đang có sống được?

Câu trả lời hiển nhiên thường là câu đắt nhất.

Cách rõ ràng nhất để phục hồi đất sau khai thác mỏ là phủ một lớp đất mặt lên trên. Báo cáo từ các bãi thải mỏ kim cương ở Nam Phi ghi nhận cách đó có tác dụng thật, giúp ổn định sườn và tạo môi trường sinh trưởng tốt hơn. Nhưng cùng báo cáo ấy viết thẳng rằng cách này cực kỳ tốn kém, và trong nhiều trường hợp không làm được, vì không có đất mà lấy và vì không tiếp cận được phần giữa sườn (TVNI, 2002, tr. 302).

Các bao tải hom cỏ Vetiver màu đỏ và xanh chất thành đống trên mặt bằng đã hoàn thổ tại một mỏ than, nhóm nhân công đội nón lá đứng cạnh, vách đá và đường công vụ phía sau
Thứ được chở tới hiện trường là các bao hom giống, không phải xe đất mặt.

Nên phần lớn công việc thật không nằm ở chỗ chở vật liệu mới về. Sổ tay kỹ thuật nói rõ ranh giới: khi khối lượng vật liệu ô nhiễm quá lớn để xử lý hay bốc đi một cách kinh tế, thì việc phải làm là ngăn ô nhiễm rời khỏi hiện trường, và nguyên nhân đưa nó đi thường là xói mòn do gió, do nước, cùng với rửa trôi (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 73).

Đọc câu ấy cho kỹ thì thấy nó đổi hẳn mục tiêu. Mục tiêu thôi là làm sạch khối vật liệu; mục tiêu trở thành giữ nó nằm yên tại chỗ. Một lớp phủ thực vật bám được vào nền làm đúng việc đó, và làm với chi phí mà một lớp đất mặt chở tới không bao giờ sánh được.

Hình vẽ so sánh hai đường phục hồi đất sau khai thác mỏ, một bên là phủ đất mặt chở từ nơi khác tới, một bên là giữ khối vật liệu tại chỗ bằng lớp phủ thực vật chặn gió, dòng chảy mặt và rửa trôi
Hai đường xử cho cùng một bài toán: chở đất tới phủ lên, hoặc giữ khối vật liệu nằm yên tại chỗ.

Đây cũng là chỗ cỏ Vetiver có lợi thế riêng trên nền nghèo. Sổ tay ghi nhận cây sống và mọc được trên đất rất nghèo chất hữu cơ, đạm và lân, nhờ quan hệ cộng sinh mạnh với nhiều nhóm vi sinh vật vùng rễ, trong đó có nhóm cố định đạm (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 32). Trên một nền chưa từng làm đất bao giờ, đó là khác biệt giữa sống và không sống.

Phục hồi đất sau khai thác mỏ mất bao lâu?

Để tự nhiên thì rất lâu, và đó là lý do người ta phải can thiệp.

Khảo sát trên các bãi thải bỏ hoang trong nước ghi nhận ba giai đoạn. Năm đến mười năm đầu chỉ có cây cỏ. Từ năm thứ năm đến năm thứ mười mới xuất hiện cây bụi. Phải hai mươi đến ba mươi năm mới có cây gỗ nhỏ (Trần Miên, 2012). Việc trồng cây là rút ngắn ba giai đoạn ấy, không phải nhảy thẳng tới giai đoạn cuối.

Mặt bằng đã hoàn thổ rộng tại một mỏ than với thông con trồng thưa trên nền còn lộ nhiều đá, cỏ mọc xen từng đám, dãy núi xa phía chân trời
Mặt bằng đã trồng thông con vài năm, nhưng đá vẫn lộ trên mặt và cỏ mới mọc thành đám rời.

Đo tiến bộ thì đừng đo bằng màu xanh nhìn từ đường công vụ. Ba thứ đáng đo là tỷ lệ sống sau mùa mưa đầu tiên, độ dày lớp vật liệu hữu cơ tích được dưới tán, và việc các loài không ai trồng có bắt đầu tự mọc xen vào hay chưa. Loài tự mọc là dấu hiệu đáng tin nhất, vì nó nói rằng nền đã tự nuôi được cây chứ không còn sống nhờ phân bón lót.

Quy mô của việc này ở Việt Nam không nhỏ. Riêng một tập đoàn khai khoáng đã cải tạo và phủ xanh trên 2.400 ha bãi thải mỏ, trong đó trên 2.100 ha ở Quảng Ninh, và kế hoạch năm 2026 là trồng khoảng 250 ha (Phạm Tăng, 2026).

Tóm lại, phục hồi đất sau khai thác mỏ bắt đầu bằng một việc rẻ: phân loại cái nền đang có. Chua, kiềm natri, hay trơ và chặt là ba bài toán khác nhau, và mỗi bài toán có một việc phải làm xong trước khi cây giống xuống đất. Làm đúng thứ tự thì lớp phủ giữ được nền, và nền tự nuôi cây từ mùa mưa thứ hai trở đi.

Nếu bạn đang lập hoặc đang rà lại phần cải tạo nền trong một phương án phục hồi môi trường mỏ, OlaFarm sẵn lòng cùng bạn xem phần giống: đối chiếu kết quả phân tích đất hoặc ảnh hiện trạng với ngưỡng cỏ sống được, chọn dòng giống hợp với nền, và tính số tép theo diện tích từng khu. Bạn có thể xem giống cỏ Vetiver cho dự án phục hồi môi trường mỏ, hoặc gửi cho chúng tôi ảnh hiện trạng và diện tích qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Phục hồi đất sau khai thác mỏ bắt đầu từ việc gì?

Từ việc phân loại nền. Nền sau khai thác hỏng theo ba kiểu là chua sinh phèn, kiềm và natri, hoặc trơ và bị đầm chặt; mỗi kiểu có một việc phải làm xong trước khi trồng. Chua quá thì phải nâng pH trước, vì có ngưỡng mà cây không sống nổi dù trồng dày đến đâu (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 16).

Dự án có bắt buộc phải chở đất mặt về phủ lên bãi thải không?

Không bắt buộc, và thường là không làm nổi. Báo cáo hiện trường ghi nhận việc phủ đất mặt có tác dụng nhưng cực kỳ tốn kém, nhiều khi không thực hiện được vì thiếu đất và vì không tiếp cận được phần giữa sườn (TVNI, 2002, tr. 302). Trong phần lớn trường hợp, việc thực tế là giữ khối vật liệu nằm yên tại chỗ bằng lớp phủ thực vật.

Nền chua tới mức nào thì cỏ Vetiver không sống được?

Cỏ được ghi nhận mọc tốt trên bãi thải vàng cũ có pH 2,7 và chịu được mức bão hoà nhôm 68 đến 86%, nhưng không sống ở mức bão hoà nhôm 90% đi kèm pH 2 (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 16). Dưới ngưỡng đó thì việc phải làm là xử lý độ chua trước, không phải đổi giống.

Chưa có kết quả phân tích đất thì nhìn bằng gì?

Nhìn xem có loài nào tự mọc lên không. Ghi chép tại bãi thải mỏ kim cương Nam Phi cho thấy mặt bãi nung nóng khiến phần lớn hạt không nảy mầm, và chỉ khi hàng cỏ tạo bóng làm mát bề mặt thì hạt loài khác mới mọc (TVNI, 2002, tr. 447). Chỗ trơ trọi qua nhiều mùa mưa là chỗ bề mặt còn đang chặn. Phép thử này không cho biết nền hỏng theo kiểu nào, nên nó chỉ giúp bạn quyết có đi lấy mẫu hay không.

Bãi thải nghèo mùn thế thì cỏ lấy dinh dưỡng ở đâu?

Từ hốc trồng trước, rồi từ vi sinh vật vùng rễ sau. Sổ tay kỹ thuật ghi nhận cỏ Vetiver sống được trên đất rất nghèo chất hữu cơ, đạm và lân nhờ quan hệ cộng sinh mạnh với nhiều nhóm vi sinh vật vùng rễ, trong đó có nhóm cố định đạm (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 32). Trên nền chủ yếu là đá vẫn nên tăng lượng đất bón lót ban đầu (Trần Miên, 2012).

Nền cần bao lâu để tự nuôi được cây?

Không có một con số chung, nhưng có mốc để so. Bãi thải bỏ hoang phải hai mươi đến ba mươi năm mới có cây gỗ nhỏ, và năm đến mười năm đầu chỉ có cây cỏ (Trần Miên, 2012). Dấu hiệu đáng tin nhất cho thấy nền đã tự nuôi được cây là các loài không ai trồng bắt đầu tự mọc xen vào.

Tài liệu tham khảo

  • Islam, M. S. (2025). Standard Specification for Slope Stabilization Using Vetiver Grass. The Vetiver Network International. Giấy phép CC BY-NC-SA 4.0.
  • Phạm Tăng (2026, 28 tháng 2). TKV phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Bính Ngọ 2026. Báo Quảng Ninh điện tử. https://baoquangninh.vn/tkv-phat-dong-tet-trong-cay-doi-doi-nho-on-bac-ho-xuan-binh-ngo-2026-3397888.html
  • The Vetiver Network International (2002). TVNI Newsletters 1990–2002. The Vetiver Network International.
  • Trần Miên (2012, 30 tháng 5). Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam. Tạp chí Năng lượng Việt Nam. https://nangluongvietnam.vn/cai-tao-phuc-hoi-moi-truong-bai-thai-mo-than-trong-dieu-kien-viet-nam-1128.html
  • Truong, P. và Lưu Thái Danh (2015). The Vetiver System for Improving Water Quality: Prevention and Treatment of Contaminated Water and Land (ấn bản 2). The Vetiver Network International.
  • Truong, P., Gordon, I., Armstrong, F. và Shepherdson, J. (2002). Vetiver grass for saline land rehabilitation under tropical and Mediterranean climate. Trong Proceedings of the 8th National Conference on Productive Use of Saline Lands, Fremantle.

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *