Trang chủ › Xử lý ô nhiễm đất, nước › Trồng cây trên bãi thải mỏ: chọn loài nào cho từng lứa phục hồi

Trồng cây trên bãi thải mỏ: chọn loài nào cho từng lứa phục hồi

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 10/09/2026Đọc 15 phútChuyên mục Xử lý ô nhiễm đất, nước

Tóm tắt

Trồng cây trên bãi thải mỏ là việc phủ xanh khối đất đá đổ ra sau khai thác, nơi đá thải chiếm trên 90% vật liệu còn đất chưa tới 10%. Nền ấy chua, nghèo dinh dưỡng và nóng, nên cây không trồng một lần mà trồng theo lứa: cỏ phủ đất trước, cây họ đậu tiếp theo, cây gỗ lớn sau cùng. Bài viết này trình bày loài cây dùng cho từng lứa và giải thích vì sao cỏ Vetiver được xếp vào lứa đầu khi trồng cây trên bãi thải mỏ.

Mái taluy đá phân tầng tại một mỏ than, các hàng cỏ Vetiver mới cắt lá trồng ngang sườn, bụi cây tái sinh và thông con mọc xen
Ba lứa cây trong một khung hình: hàng cỏ mới cắt lá trên sườn đá, bụi cây tái sinh và thông con.

Trên một bãi thải vừa dừng đổ, nên trồng loài gì trước? Trồng thẳng keo và thông được không, hay phải phủ cỏ một thời gian rồi mới trồng cây gỗ? Và cỏ Vetiver đứng ở chỗ nào trong trình tự đó?

Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn trả lời ba câu hỏi ấy bằng cách nhìn bãi thải như một cái nền chứ không như một mảnh đất: nền ấy có gì, thiếu gì, và loài cây nào chịu được nó ở từng thời điểm.

Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn đối chiếu phần trồng cây trong một phương án cải tạo, phục hồi môi trường với thực tế ngoài hiện trường, gồm loài cây, mật độ và thời vụ mà ngành than trong nước đang áp dụng.

Nội dung bài

Nền bãi thải mỏ khác đất trồng ở những điểm nào?

Bãi thải không phải đất. Nó là đá nghiền có lẫn một ít đất.

Kết quả phân tích thành phần vật liệu trên các bãi thải than cho thấy đá thải chiếm trên 90% tổng lượng vật liệu, phần đất còn lại dưới 10% (Trần Miên, 2012). Đó là con số quyết định mọi thứ phía sau. Rễ non không tìm được hạt đất để bám, nước mưa chảy tuột qua khe đá thay vì đọng lại, và lượng mùn để nuôi cây gần như không có.

Thành phần hoá học cũng không thuận. Đất đá trên bãi thải thuộc loại chua, nghèo dinh dưỡng (Trần Miên, 2012).

Còn một yếu tố hay bị bỏ qua: nhiệt. Khảo sát tại một số vùng thải cho thấy nhiệt độ không khí cao nhất ngay trên bề mặt bãi thải lên tới 39,8°C, và ở độ cao 40 cm là 39°C (Trần Miên, 2012). Mặt bãi trống, gió mạnh, độ ẩm không khí thấp hơn khu vực xung quanh. Một cây con vừa đặt xuống phải chịu cả ba thứ cùng lúc: khô, nóng và không có gì để bám rễ.

Trở ngại của nền bãi thảiNhìn thấy bằng gì ngoài hiện trườngHệ quả với cây mới trồng
Đá chiếm trên 90%, đất dưới 10%Mặt bãi là đá dăm rời, đi lún chânRễ không bám, cây đổ khi mưa lớn
Nghèo mùn, giữ nước kémSau mưa vài giờ mặt bãi đã khôCây héo giữa hai trận mưa
Đất chua, nghèo dinh dưỡngCây trồng lên còi, lá vàng dù không sâu bệnhSinh trưởng chậm, chết dần trong mùa đầu
Mặt bãi nóng và trống gióĐứng trên bãi giữa trưa nắng thấy rõHạt không nảy mầm, cây con cháy lá
Hình vẽ mặt cắt một sườn bãi thải mỏ chỉ ra bốn trở ngại với cây trồng gồm đá dăm rời chiếm trên 90%, thiếu mùn, đất chua và nhiệt bề mặt cao
Bốn trở ngại của nền bãi thải: cây con phải chịu cả bốn thứ cùng một lúc.

Vì thế, câu hỏi “trồng cây gì” trên bãi thải không giống câu hỏi ấy trên đất rừng hay đất đồi. Ở đây, tiêu chí đầu tiên là cây có sống nổi hay không; tốc độ lớn và chất lượng gỗ xếp sau.

Vì sao trồng cây trên bãi thải mỏ phải đi theo ba lứa?

Vì tự nhiên cũng làm đúng như vậy, chỉ chậm hơn nhiều lần.

Trên các bãi thải bỏ hoang, thảm thực vật quay lại theo ba giai đoạn. Bãi tồn tại 1 đến 5 năm thì chỉ có cây cỏ mọc được, như le, chè vè, lau, chít. Bãi 5 đến 10 năm bắt đầu xuất hiện cây bụi: dẻ ngon, thao kén, thẩu tấu, sim, mua. Phải tới khi bãi đã 20 đến 30 năm mới thấy cây gỗ nhỏ như đuôi lươn tía, cà suối, sơn ta (Trần Miên, 2012).

Ba mươi năm là quá dài với một dự án có thời hạn đóng cửa mỏ.

Vậy trồng cây trên bãi thải mỏ là làm gì? Là rút ngắn ba giai đoạn ấy bằng cách đưa đúng loài vào đúng lúc. Thứ tự vẫn giữ nguyên như tự nhiên đã xếp; chỉ có tốc độ được đẩy nhanh lên.

Tài liệu kỹ thuật của ngành than chia việc này thành hai bước. Bước một trồng cây họ đậu trên mặt bằng để cải tạo thành phần dinh dưỡng của đất đá thải, và trồng cỏ trên sườn dốc để giữ mặt bãi. Bước hai, khi đất đai trên sườn đã được cải thiện, mới tiến hành trồng các loại cây thân gỗ (Trần Miên, 2012).

Cách chia ấy nói rõ vai trò của từng lứa: lứa trước là điều kiện để lứa sau tồn tại. Bỏ lứa trước thì lứa sau không có nền để đứng.

Cách làm này không riêng của Việt Nam. Trong tài liệu quốc tế, loài phủ đất đầu tiên được gọi là cây vú em (nurse plant): nó cải thiện tiểu môi trường của mặt đất để các loài gieo sau hoặc tự mọc có thể định cư (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 13). Tiêu chuẩn thi công năm 2025 của Mạng lưới Vetiver Quốc tế dùng đúng khái niệm ấy khi mô tả vai trò của cỏ Vetiver trên đất bị xáo trộn (Islam, 2025, tr. 29).

Cặp lứa một và lứa hai cũng đã được mô tả thành một chuỗi: cây tiên phong đi trước, cây cố định đạm theo sau, và sự nối tiếp ấy mở đường cho những khu đất trước đó không dùng được (TVNI, 2002, tr. 327).

Hình vẽ thứ tự trồng cây trên bãi thải mỏ theo ba lứa gồm lứa cỏ phủ đất, lứa cây họ đậu cải tạo đất và lứa cây gỗ lớn
Ba lứa cây phục hồi bãi thải: mỗi lứa để lại nền cho lứa kế tiếp.

Lứa một trồng loài gì trên bãi thải mới dừng đổ thải?

Lứa một chọn theo khả năng sống sót, không chọn theo giá trị gỗ.

Khảo sát các loài đã trồng thử trên sườn bãi thải mới dừng đổ thải cho thấy sắn dây dại thích ứng tốt nhất, mật độ 5.000 đến 6.000 cây mỗi hecta. Cùng đợt khảo sát ấy ghi nhận bìm bìm và tre gai kém phát triển (Trần Miên, 2012). Ngoài sắn dây dại, các loài lau, le, chít được trồng trên sườn dốc, còn phần chân bãi thải có thể trồng tre gai ken dày để hạn chế đất đá trôi xuống.

Cỏ Vetiver được xếp vào lứa này. Đây là một loài cỏ bụi thân đứng, tên khoa học Chrysopogon zizanioides (L.) Roberty.

Theo hồ sơ giống HB06 mà OlaFarm tự công bố, cây trưởng thành cao 150 đến 200 cm; rễ chùm mọc gần như thẳng đứng và dài 100 đến 300 cm sau 12 tháng; cây có ra hoa nhưng không kết hạt, nên giống được nhân bằng cách tách tép (TCCS 76:2026/HBVN). Số đo ấy lấy trên 100 bụi tại vườn giống của chúng tôi từ 2016 đến 2026. Đặc điểm và giới hạn của loài này được trình bày kỹ ở bài cỏ Vetiver.

Ba đặc tính khiến nó hợp với nền bãi thải. Thứ nhất là ngưỡng chịu kim loại nặng trong đất, cao hơn cây cỏ thông thường nhiều lần. Thứ hai là khả năng sống trên đất kiềm và nhiễm natri: cỏ sinh trưởng được trên bãi thải bentonit có tỷ lệ natri trao đổi tới 48%, và trên đất phủ mỏ than có tỷ lệ natri trao đổi 33% (Islam, 2025, tr. 28). Cùng loại đất phủ ấy được ghi nhận ở pH 9,6 (Truong và cộng sự, 2002). Thứ ba là bộ rễ đâm sâu, thứ giữ được mặt sườn dốc trong lúc chưa có gì khác giữ.

Kim loại trong đấtNgưỡng cỏ Vetiver chịu được (mg/kg)Ngưỡng cây cỏ thông thường (mg/kg)
Asen (As)100 – 2502,0
Cadimi (Cd)20 – 601,5
Niken (Ni)1007 – 10
Chì (Pb)trên 1.500—
Kẽm (Zn)trên 750—

Nguồn: (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 97); ngưỡng tương tự cũng được nêu lại trong (Islam, 2025, tr. 28).

Cơ chế của lứa một được mô tả gọn trong tài liệu ngành: cỏ giữ chặt lớp mặt còn rời trước đã, để các loài khác định cư dần vào khoảng đất giữa hai hàng cỏ (TVNI, 2002, tr. 518). Cùng tài liệu ấy ghi nhận cỏ được dùng trên đất phủ thải và trên hai thái cực độ chua: bãi thải mỏ than mặn và kiềm ở pH 9,5, và bãi thải mỏ vàng rất chua ở pH 3,5.

Việc “mở đường” ấy đôi khi đến từ một thứ rất giản dị là cái bóng. Trên bãi thải mỏ kim cương ở Nam Phi, mặt bãi màu đen nung nóng trên 55°C nên phần lớn hạt không nảy mầm được; bóng của các hàng cỏ trồng cách nhau 2 m đã hạ nhiệt bề mặt đủ để hạt loài khác mọc lên (TVNI, 2002, tr. 35).

Có một thử nghiệm đáng chú ý vì nó đặt các loài cạnh nhau trên cùng một nền. Trên bãi thải mỏ than mặn và kiềm rộng 23 ha ở Queensland (Úc), năm loài chịu mặn được trồng thử; sau 210 ngày, tất cả chết trừ cỏ Vetiver và cỏ marine couch (Truong và cộng sự, 2002, tr. 6). Kết quả ấy không nói cỏ Vetiver tốt hơn về mọi mặt. Nó chỉ nói rằng ở ngưỡng khắc nghiệt, số loài còn lại rất ít.

Ngành than trong nước đã thử cách này từ sớm. Từ tháng 10 năm 2007, cỏ Vetiver được trồng thử tại bãi thải LV.46 Hồng Thái và bãi thải Chính Bắc của mỏ Núi Béo, bước đầu cho thấy tính thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của bãi thải và khả năng giữ ổn định sườn bãi, chống xói lở tốt (Trần Miên, 2012). Tại Chính Bắc, sau khi hạ độ cao bãi thải và cắt phân tầng, cỏ được trồng trên sườn các tầng; dự án có tổng diện tích 10,21 ha, đã trồng được 6,8 ha, tỷ lệ sống khoảng 85%, và sau chín tháng cây cao 1 đến 1,5 m (VUSTA, 2010).

Sườn taluy đá xám dốc tại mỏ than với các hàng cỏ Vetiver trồng ngang chạy chéo khung hình, đỉnh núi đá lộ tầng phía sau
Hàng cỏ trồng ngang trên sườn đá dốc, lá đã cắt ngắn sau khi trồng.

Một lưu ý về chi phí, nêu ngay ở đây vì nó hay bị bỏ sót lúc lập dự toán: khi trồng cỏ trên sườn bãi thải có thành phần chủ yếu là đá, nên tăng thêm lượng đất bón lót ban đầu để cỏ có nguồn dinh dưỡng lâu dài (Trần Miên, 2012). Khối lượng đất mặt ấy là một dòng riêng trong bảng khối lượng, không phải thứ đi kèm miễn phí với cây giống.

Cây họ đậu và cây gỗ vào bãi thải lúc nào?

Lứa hai làm việc bón đất, lứa ba mới là lứa cây mà hồ sơ vẽ ra ở trang cuối.

Ở bước một, cùng lúc với cỏ trên sườn dốc, mặt bằng được trồng các loài keo, muồng muồng, điền thanh. Đây đều là cây họ đậu, và lý do chọn chúng là để cải tạo thành phần dinh dưỡng cho đất đá bãi thải (Trần Miên, 2012). Cây họ đậu cộng sinh với vi khuẩn nốt sần, cố định đạm từ không khí vào đất, nên chúng vừa sống được trên nền nghèo vừa để lại đạm cho lứa sau. Tài liệu quốc tế cũng chỉ đích danh nhóm cây gỗ họ đậu chịu được đất feralit, trong đó có keo tai tượng (Acacia mangium), như một lựa chọn mạnh cho vai trò này (TVNI, 2002, tr. 327).

Cây gỗ vào sau, khi bãi đã ổn định. Với bãi thải đã dừng đổ từ 5 đến 10 năm, các loài thân gỗ chịu hạn được dùng gồm phi lao, keo lai, keo chịu hạn, keo đen, thông đuôi ngựa và thông nhựa, trồng ở mật độ 2.500 đến 3.000 cây mỗi hecta (Trần Miên, 2012).

LứaVị trí trên bãi thảiLoài thường dùngMật độ
Một — phủ đất, giữ mặtSườn dốc, sườn tầngCỏ Vetiver, sắn dây dại, lau, le, chít5.000 – 6.000 cây/ha (sắn dây dại)
Một — chắn chân bãiChân bãi thảiTre gai ken dàytheo tuyến
Hai — cải tạo dinh dưỡngMặt bằngKeo, muồng muồng, điền thanh2.000 – 2.500 cây/ha
Ba — cây gỗToàn bãi đã ổn định 5–10 nămPhi lao, keo lai, keo chịu hạn, keo đen, thông đuôi ngựa, thông nhựa2.500 – 3.000 cây/ha

Nguồn: (Trần Miên, 2012).

Trong các dự án cải tạo, phục hồi bãi thải đã và đang thực hiện tại các đơn vị thuộc Vinacomin, mật độ thường áp dụng là 2.000 đến 2.500 cây mỗi hecta, tỷ lệ trồng dặm 10%, hố trồng thường 40x40x40 cm và tối đa 50x50x40 cm. Thời vụ trồng tốt nhất là vụ xuân (Trần Miên, 2012).

Ví dụ giả định, con số đặt ra cho tròn: một mặt tầng thải 3 ha trồng keo ở mật độ 2.500 cây mỗi hecta cần 7.500 cây, cộng 10% trồng dặm là 8.250 cây. Cũng 3 ha ấy nếu phủ sắn dây dại ở mật độ 5.000 cây mỗi hecta thì cần 15.000 hom. Hai con số rất khác nhau, và chúng nằm ở hai dòng khác nhau của bảng khối lượng.

Quy mô của hạng mục này lớn hơn nhiều người hình dung. Riêng Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã phủ xanh trên 2.400 ha bãi thải, và kế hoạch năm 2026 là trồng thêm khoảng 250 ha (Phạm Tăng, 2026).

Toàn cảnh mặt bằng hoàn thổ tại mỏ than đã trồng thông con, cỏ dại mọc xen và đá lộ trên mặt, vách taluy đá cao phía sau
Mặt bằng hoàn thổ đã sang lứa cây gỗ: thông con mọc xen cỏ dại, đá vẫn lộ trên mặt.

Đến đây phải nói rõ một giới hạn của lứa một. Cỏ Vetiver không chịu được bóng râm; bóng râm làm giảm sinh trưởng và có thể làm cỏ lụi đi (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 20). Nghĩa là khi lứa cây gỗ lớn lên và khép tán, hàng cỏ bên dưới sẽ thưa dần rồi mất.

Đó không phải là hỏng. Đó là kết thúc đúng của vai trò lứa một.

Tài liệu kỹ thuật viết thẳng điều này: trong một số trường hợp, người ta cần một giống cây tiên phong để tạo điều kiện ổn định và cải thiện môi trường cho các giống khác mọc tiếp, và sau đó thì không cần đến giống cây tiên phong ấy nữa (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 60). Một ghi chép hiện trường trên mái dốc trên 100% mô tả đúng cảnh đó: phần lớn cỏ đã bị che bóng và mất đi, nhưng nó đã làm xong việc giữ ổn định ban đầu và tạo môi trường tốt hơn cho cây gỗ lớn lên (TVNI, 2002, tr. 662).

Nếu bạn đang lập hoặc rà lại phần trồng cây trên bãi thải mỏ trong một phương án cải tạo, phục hồi môi trường, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem xét phần lứa một: chọn dòng giống hợp với nền bãi thải của bạn, tính mật độ và số lượng cho từng diện tích sườn tầng, và sắp lịch cấp giống theo mùa trồng. Bạn có thể xem giống cỏ Vetiver cho dự án phục hồi môi trường mỏ, hoặc gửi cho chúng tôi ảnh hiện trạng bãi thải và diện tích cần phủ qua trang liên hệ.

Những sai lầm thường gặp khi trồng cây trên bãi thải mỏ

Những lỗi dưới đây đều đã có ghi nhận thực tế, và lỗi nào cũng tốn ít nhất một mùa trồng.

Trồng thẳng cây gỗ lên bãi vừa dừng đổ thải. Nền lúc ấy còn rời rạc, chưa có mùn, chưa giữ được nước. Bỏ lứa một để đi ngay tới lứa ba là cách nhanh nhất phải trồng lại, và tài liệu ngành xếp cây thân gỗ vào nhóm bãi thải đã tồn tại 5 đến 10 năm (Trần Miên, 2012).

Phủ bẹ xơ dừa cho cỏ mới trồng. Đây là lỗi phản trực giác nhất, vì phủ gốc thường được coi là việc tốt. Thực tế tại bãi thải Chính Bắc của mỏ Núi Béo cho thấy những khu vực có thử nghiệm phủ thảm bẹ xơ dừa thì cỏ Vetiver đều bị chết (Trần Miên, 2012).

Nhầm phủ xanh với làm sạch. Cỏ Vetiver không rút kim loại nặng ra khỏi bãi thải theo nghĩa bóc đi; phần lớn lượng kim loại được giữ lại quanh vùng rễ và cố định tại chỗ. Cơ chế này được giải thích ở bài phytoremediation. Bãi thải sau khi phủ xanh vẫn là bãi thải, chỉ khác ở chỗ nó không còn phát tán bụi và không còn trôi theo nước mưa.

Tóm lại, trồng cây trên bãi thải mỏ là việc xếp đúng thứ tự các lứa cây, và mỗi lứa có một việc riêng. Lứa cỏ và cây phủ đất giữ mặt bãi và bắt đầu tạo mùn, lứa cây họ đậu cải tạo dinh dưỡng, lứa cây gỗ đóng lại hồ sơ phục hồi. Cỏ Vetiver nằm ở lứa đầu và sẽ nhường chỗ khi tán cây khép lại. Nếu phần trồng cây trong phương án của bạn đang xếp cả ba lứa vào cùng một năm, đó là chỗ nên xem lại trước tiên.

Câu hỏi thường gặp

Trồng cây trên bãi thải mỏ nên bắt đầu bằng loài nào?

Bắt đầu bằng lứa cỏ và cây phủ đất chịu được nền đá dăm. Khảo sát trên sườn bãi thải mới dừng đổ thải cho thấy sắn dây dại thích ứng tốt nhất, mật độ 5.000 đến 6.000 cây mỗi hecta, kèm theo lau, le, chít trên sườn dốc (Trần Miên, 2012). Cỏ Vetiver cũng được xếp vào lứa này và đã được thử nghiệm trên bãi thải than trong nước từ năm 2007.

Bãi thải vừa dừng đổ có trồng được cây gỗ ngay không?

Không nên. Tài liệu kỹ thuật của ngành than xếp các loài thân gỗ chịu hạn như phi lao, keo lai, thông đuôi ngựa vào nhóm bãi thải đã tồn tại 5 đến 10 năm, tức bãi đã tương đối ổn định (Trần Miên, 2012). Trên bãi mới, nền còn rời rạc và nghèo mùn nên cây gỗ khó qua được mùa khô đầu tiên.

Cỏ Vetiver có thay được cây gỗ trong phương án cải tạo, phục hồi môi trường không?

Không. Cỏ Vetiver là loài của lứa đầu, làm việc giữ mặt bãi và cải thiện môi trường cho các loài sau mọc lên, và khi cây gỗ khép tán thì bản thân nó lụi dần vì không chịu được bóng râm (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 20; Truong và cộng sự, 2008c, tr. 13). Hạng mục cây gỗ trong hồ sơ vẫn phải trồng bằng cây gỗ.

Mật độ trồng thường áp dụng trên bãi thải là bao nhiêu?

Trong các dự án cải tạo, phục hồi bãi thải thuộc Vinacomin, mật độ thường dùng là 2.000 đến 2.500 cây mỗi hecta, tỷ lệ trồng dặm 10%, hố trồng 40x40x40 cm và tối đa 50x50x40 cm (Trần Miên, 2012). Riêng nhóm keo, thông, phi lao trên bãi đã dừng đổ 5 đến 10 năm thì dùng 2.500 đến 3.000 cây mỗi hecta.

Nên trồng vào mùa nào?

Vụ xuân là thời vụ tốt nhất theo tài liệu của ngành than (Trần Miên, 2012). Lý do nằm ở nền: mặt bãi thải giữ nước kém và nóng, nên cây con cần cả một mùa mưa để bén rễ trước khi gặp mùa khô đầu tiên.

Phủ bẹ xơ dừa cho cỏ mới trồng trên bãi thải có tốt không?

Không nên dùng. Thực tế tại bãi thải Chính Bắc của mỏ Núi Béo cho thấy những khu vực thử nghiệm phủ thảm bẹ xơ dừa thì cỏ Vetiver đều bị chết (Trần Miên, 2012). Thay vào đó, việc nên làm là tăng lượng đất bón lót ban đầu, nhất là trên các sườn có thành phần chủ yếu là đá.

Tài liệu tham khảo

  • Islam, M. S. (2025). Standard Specification for Slope Stabilization Using Vetiver Grass. The Vetiver Network International. Giấy phép CC BY-NC-SA 4.0.
  • OlaFarm (2026). TCCS 76:2026/HBVN Giống cỏ Vetiver HB06 — Tiêu chuẩn cơ sở. Tiêu chuẩn cơ sở tự công bố.
  • Phạm Tăng (2026, 28 tháng 2). TKV phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Bính Ngọ 2026. Báo Quảng Ninh điện tử. https://baoquangninh.vn/tkv-phat-dong-tet-trong-cay-doi-doi-nho-on-bac-ho-xuan-binh-ngo-2026-3397888.html
  • The Vetiver Network International (2002). TVNI Newsletters 1990–2002. The Vetiver Network International.
  • Trần Miên (2012, 30 tháng 5). Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam. Tạp chí Năng lượng Việt Nam. https://nangluongvietnam.vn/cai-tao-phuc-hoi-moi-truong-bai-thai-mo-than-trong-dieu-kien-viet-nam-1128.html
  • Truong, P., Gordon, I., Armstrong, F. và Shepherdson, J. (2002). Vetiver grass for saline land rehabilitation under tropical and Mediterranean climate. Trong Proceedings of the 8th National Conference on Productive Use of Saline Lands, Fremantle.
  • Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008c). Vetiver System for Agriculture. The Vetiver Network International.
  • VUSTA (2010, 22 tháng 2). Kết quả bước đầu trong việc trồng cỏ vetiver tại bãi thải Chính Bắc Công ty cổ phần than Núi Béo – TKV. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. https://vusta.vn/ket-qua-buoc-dau-trong-viec-trong-co-vetiver-tai-bai-thai-chinh-bac-cong-ty-co-phan-than-nui-beo-tkv-p72594.html

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *