Trang chủ › Chống sạt lở & xói mòn › Ổn định bờ moong khai thác mỏ: sửa hình dốc trước, trồng cỏ sau
Ổn định bờ moong khai thác mỏ: sửa hình dốc trước, trồng cỏ sau
Tóm tắt
Ổn định bờ moong khai thác mỏ là việc giữ cho sườn tầng, bờ moong và sườn bãi thải không trôi, không trượt sau khi mỏ dừng khai thác. Cỏ Vetiver giữ được lớp mặt của sườn, nhưng nó không sửa được chiều cao và góc dốc. Tiêu chuẩn kỹ thuật lẫn hiện trường trong nước đều đi theo một thứ tự: sửa hình dạng dốc theo thiết kế trước, rồi mới trồng.

“Sườn này trồng bao nhiêu cỏ thì hết trôi?” Đó là câu người phụ trách hiện trường hay hỏi trước tiên. Câu hỏi đúng, nhưng đặt sai chỗ trong trình tự.
OlaFarm cấp giống cho những sườn mỏ như thế, nên xin nói ngay chỗ khó. Một sườn bãi thải cao vài chục mét, đổ toàn đá dăm, đang đứng ở đúng cái góc mà vật liệu rời tự nó còn đứng được. Thêm một trận mưa lớn thì góc ấy không giữ được nữa, và không có mật độ cỏ nào bù lại được phần chênh lệch.
Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn xếp việc theo đúng thứ tự ngoài công trường: hình dạng của dốc trước, hàng cỏ sau, và ở giữa là một ranh giới nên biết trước khi ký khối lượng, đó là cỏ giữ được tới đâu.
Nội dung bài
Sườn mỏ khác mái taluy đường ở những điểm nào?
Ba điểm, và chúng đến cùng một lúc.
Thứ nhất là vật liệu. Trên các bãi thải than, đá thải chiếm trên 90% tổng lượng vật liệu, phần đất còn lại chưa tới 10% (Trần Miên, 2012). Một mái taluy đường đắp có đất mịn để đầm chặt thành khối. Sườn bãi thải mỏ thì không có thứ đó.
Thứ hai là góc dốc. Vật liệu rời đổ xuống sẽ tự xếp lại ở góc nghỉ, tức góc lớn nhất mà vật liệu rời của loại đó còn đứng yên được, thường vào khoảng 30 đến 35 độ (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 28). Ghi chép hiện trường tại các bãi thải mỏ kim cương Nam Phi cũng cho đúng khoảng góc ấy, trên những đống thải rộng 100 đến 200 ha và cao tới 80 m (TVNI, 2002, tr. 302). Đứng ở góc nghỉ là đang đứng ngay tại ngưỡng của vật liệu, không dư ra chút biên an toàn nào.
Thứ ba là nước, và nó nguy hiểm nhất ở chân dốc. Nước làm tăng lực gây trượt bằng cách chất thêm tải lên khối vật liệu, đồng thời bào mòn phần chân sườn, lấy đi chỗ tựa và khiến lực gây trượt tăng lên; hư hỏng xảy ra thường xuyên hơn hẳn trên mái dốc đứng so với mái thoải (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 30).
Cộng ba điểm ấy lại thì thấy vì sao một hàng cỏ, tự nó, không phải câu trả lời đầy đủ cho một sườn mỏ. Cỏ tác động lên lớp đất mặt. Chiều cao khối và góc dốc thì nằm ngoài tầm với của bất kỳ bộ rễ nào. Phần nguyên nhân trượt lở, vùng ảnh hưởng dưới chân bãi và những việc phải làm trước mùa mưa nằm ở bài chống sạt lở bãi thải mỏ.
Ổn định bờ moong khai thác mỏ: cắt tầng trước hay trồng cỏ trước?
Hình học quyết định phần lớn, cỏ cộng thêm phần của nó lên trên.
Tiêu chuẩn kỹ thuật mới nhất về ổn định mái dốc bằng cỏ Vetiver tách hẳn bước chuẩn bị thành một mục riêng: trước khi trồng, sườn phải được chuẩn bị theo đúng tỷ lệ dốc ghi trong thiết kế (Islam, 2025, tr. 39). Cũng tài liệu ấy phân loại theo chiều cao và độ dốc, mái thoải và cao vừa phải thì không cần cơ, còn mái rất dốc và rất cao thì đưa cơ vào thiết kế (Islam, 2025, tr. 49). Cơ ở đây chính là các tầng mà ngành mỏ vẫn cắt trên sườn bãi thải.
Có số đo cho biết phần cắt tầng đáng giá bao nhiêu. Một mô hình ba chiều tính cho mái đất dốc 28 đến 42% tại Indonesia cho thấy riêng việc giật cấp mái đã nâng hệ số an toàn thêm 12 đến 21% (Hamdhan và cộng sự, 2023). Cũng trong mô hình ấy, trồng thêm cỏ Vetiver với bộ rễ sâu 0,5 m đưa mức tăng lên 29%, và bộ rễ sâu 3 m đưa lên 49% (Hamdhan và cộng sự, 2023). Hai phần cộng vào nhau, và phần hình học đến trước.

Ngành than trong nước đã làm đúng thứ tự ấy từ mười lăm năm trước. Tại bãi thải Chính Bắc của mỏ Núi Béo, người ta hạ độ cao bãi thải từ mức +271 xuống mức +256 và cắt các phân tầng, rồi mới trồng cỏ trên sườn phía tây các tầng +256, +245, +230, +220 và xung quanh bãi thải ở mức +215. Dự án có tổng diện tích 10,21 ha và đã trồng được 6,8 ha (VUSTA, 2010). Sau chín tháng, cỏ cao 1 đến 1,5 m, rễ ăn sâu gần 80 cm, tỷ lệ sống khoảng 85% (VUSTA, 2010).

Nhưng không phải hiện trường nào cũng phải động tới đất đá. Báo cáo từ các bãi thải kimberlite ở Nam Phi ghi rằng khi hàng cỏ Vetiver được trồng ở khoảng cách hợp lý, chúng giữ được dòng chảy mặt và chặn được xói mòn, nhờ vậy không phải làm việc cắt dốc bằng cơ giới vốn rất tốn kém (TVNI, 2002, tr. 302).
Ranh giới nằm ở chỗ bạn đang chữa cái gì. Chữa xói mòn bề mặt thì hàng cỏ đặt đúng là đủ. Chữa một khối cao quá và dốc quá thì phải hạ và phải cắt, vì đó là bài toán của chiều cao và góc dốc, nằm ngoài phạm vi của lớp phủ. Theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm trên các sườn mỏ đã cấp giống, cả hai kiểu hiện trường đều gặp: có nơi cắt tầng xong mới trồng, có nơi trồng thẳng lên sườn đang có. Biết mình đang ở kiểu nào thì mới đặt đúng mức kỳ vọng cho mùa mưa đầu tiên.
Cỏ Vetiver giữ được sườn đến độ sâu nào?
Rễ giữ lớp mặt, và hiệu quả nhạt dần khi xuống sâu.
Một bài tổng quan năm 2024 về ứng dụng cỏ Vetiver trong sửa chữa mái dốc ghi nhận rễ đạt tới 3 m, làm giảm áp lực nước lỗ rỗng và tăng hệ số thấm bão hoà, nhưng hiệu quả gia cố giảm dần theo độ sâu, nên biện pháp này hợp với các dạng trượt nông (Chakraborty và Khan, 2024).
Nghiên cứu năm 2026 nói cụ thể hơn về ranh giới ấy. Hiệu quả do lớp đất có rễ dày khoảng 2 m quyết định: rõ rệt khi mặt trượt nằm trong hoặc gần lớp đó, và kém đi khi mặt trượt nằm sâu hơn (Chávez-Torres và cộng sự, 2026). Nhóm tác giả kết luận cỏ Vetiver là biện pháp bổ trợ, xét theo từng hiện trường và dựa trên đánh giá rủi ro, không phải một giải pháp ổn định phổ quát (Chávez-Torres và cộng sự, 2026).
Còn một giới hạn nữa, lần này thuộc về mặt sườn chứ không thuộc về độ sâu. Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật khuyến nghị chỉ trồng cỏ Vetiver trên mái đất có góc dốc không vượt 45 đến 50 độ (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63). Vách đá lộ vỉa dựng đứng không nằm trong nhóm ấy.

Nói ngược lại cho đủ hai chiều. Trong đúng phạm vi của nó, cỏ giữ rất tốt. Khảo sát của ngành than ghi nhận cỏ Vetiver thích ứng được với điều kiện khắc nghiệt của bãi thải, giữ ổn định sườn bãi và chống xói lở tốt, sau đợt trồng thử từ tháng 10 năm 2007 tại bãi thải LV.46 Hồng Thái và bãi thải Chính Bắc của mỏ Núi Béo (Trần Miên, 2012).
Đặt hàng cỏ ở đâu trên sườn tầng và cách nhau bao nhiêu?
Đo bằng chênh cao, đừng đo bằng mét dài trên mặt dốc.
Hàng cỏ chạy theo đường đồng mức, và khoảng cách giữa hai hàng được ghi theo chênh cao thẳng đứng, gọi tắt là VI, chứ không ghi theo chiều dài đo dọc mặt dốc (Islam, 2025, tr. 118). Lý do rất thực tế: cùng một chênh cao 2 m, trên sườn 10 độ hai hàng cách nhau gần 12 m đo trên mặt dốc, còn trên sườn 45 độ chỉ còn khoảng 2,8 m (TVNI, n.d.). Ghi khoảng cách theo mét dài thì cùng một con số sẽ cho hai mật độ khác hẳn nhau ở hai đoạn sườn có độ dốc khác nhau.
Bảng dưới đây quy đổi từ chênh cao sang khoảng cách đo trên mặt dốc. Nhân hệ số với chênh cao là ra (TVNI, n.d.).
| Góc dốc sườn tầng | Hệ số cho mỗi mét chênh cao | Khoảng cách trên mặt dốc khi chênh cao 2 m |
|---|---|---|
| 10° | 5,8 | 11,6 m |
| 20° | 3,0 | 6,0 m |
| 30° | 2,0 | 4,0 m |
| 35° | 1,7 | 3,4 m |
| 45° | 1,4 | 2,8 m |
Ví dụ, một sườn tầng cao 8 m và nghiêng 35 độ, đặt hàng theo chênh cao 2 m thì có bốn hàng cỏ, hai hàng liền nhau cách nhau khoảng 3,4 m đo dọc mặt sườn. Cũng sườn ấy nếu bị đọc nhầm thành “hàng cách hàng 2 m đo trên mặt dốc” thì số hàng vọt lên gần gấp đôi, và khối lượng giống trong dự toán sai theo.

Chi tiết cuối cùng hay bị bỏ sót lúc lập dự toán nằm ở cái rãnh. Trên nền chủ yếu là đá dăm, hàng cỏ không đặt vào hốc rời mà đặt vào rãnh nhỏ chạy theo đường đồng mức, rộng khoảng 15 cm và sâu 23 cm, lấp bằng đất mặt trộn phân hữu cơ (Islam, 2025, tr. 118). Khối lượng đất mặt ấy là một dòng riêng trong bảng khối lượng, không phải thứ đi kèm sẵn với cây giống. Phần chọn loài cho từng lứa cây trên nền bãi thải nằm ở bài trồng cây trên bãi thải mỏ.
Tóm lại, ổn định bờ moong khai thác mỏ là hai việc nối nhau, không phải một. Việc thứ nhất là hình dạng: hạ chiều cao và cắt tầng cho tới khi khối vật liệu đứng dưới ngưỡng của chính nó. Việc thứ hai là lớp phủ: hàng cỏ trên sườn tầng, đặt theo chênh cao, giữ lớp mặt và giữ nước không cuốn vật liệu xuống chân.
Làm việc thứ hai mà bỏ việc thứ nhất thì hàng cỏ sẽ đẹp trong một mùa khô rồi mất theo mùa mưa đầu tiên. Làm cả hai thì mỗi phần đóng góp một khoản đo được vào hệ số an toàn, và phần hình học đến trước.
Nếu bạn đang lập hoặc đang rà lại phần trồng cỏ trong một phương án cải tạo, phục hồi môi trường mỏ, OlaFarm sẵn lòng cùng bạn tính phần giống: chọn dòng giống hợp với nền đá dăm, quy đổi diện tích sườn tầng ra số tép theo chênh cao hàng, và xếp lịch cấp giống theo mùa trồng. Bạn có thể xem giống cỏ Vetiver cho dự án phục hồi môi trường mỏ, hoặc gửi cho chúng tôi ảnh hiện trạng sườn và chiều dài từng tầng qua trang liên hệ.
Câu hỏi thường gặp
Ổn định bờ moong khai thác mỏ bằng cỏ Vetiver có được không?
Được, trong phạm vi của nó. Cỏ Vetiver giữ lớp đất mặt và chặn xói mòn trên sườn tầng, nhưng hiệu quả gia cố giảm dần theo độ sâu nên nó hợp với các dạng trượt nông (Chakraborty và Khan, 2024). Với một khối cao quá và dốc quá, phần hạ độ cao và cắt tầng phải làm trước, vì đó là bài toán của hình dạng, nằm ngoài phạm vi của lớp phủ.
Sườn dốc bao nhiêu độ thì còn trồng được cỏ Vetiver?
Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật khuyến nghị chỉ trồng trên mái đất có góc dốc không vượt 45 đến 50 độ (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63). Sườn bãi thải đá dăm thường nằm quanh góc nghỉ 30 đến 35 độ (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 28), tức là trong ngưỡng. Vách đá lộ vỉa dựng đứng thì không trồng lên mặt vách được.
Cắt tầng có thật sự làm sườn an toàn hơn không, hay chỉ để dễ thi công?
Có số đo. Mô hình ba chiều tính cho mái đất dốc 28 đến 42% cho thấy riêng việc giật cấp đã nâng hệ số an toàn thêm 12 đến 21%, trước khi trồng bất cứ thứ gì (Hamdhan và cộng sự, 2023). Cắt tầng cũng rút ngắn chiều dài dòng chảy trên mặt, nên phần xói mòn giảm theo.
Khoảng cách giữa hai hàng cỏ trên sườn tầng đặt bao nhiêu?
Đặt theo chênh cao thẳng đứng chứ không theo mét dài trên mặt dốc (Islam, 2025, tr. 118). Với chênh cao 2 m, khoảng cách đo trên mặt dốc là khoảng 4,0 m ở sườn 30 độ và khoảng 2,8 m ở sườn 45 độ (TVNI, n.d.). Sườn càng dốc thì hai hàng càng sát nhau khi đo trên mặt sườn.
Cỏ trồng trên sườn đá dăm thì lấy dinh dưỡng ở đâu?
Từ rãnh trồng. Rãnh chạy theo đường đồng mức, rộng khoảng 15 cm và sâu 23 cm, lấp bằng đất mặt trộn phân hữu cơ (Islam, 2025, tr. 118). Trên bãi thải mà thành phần chủ yếu là đá, nên tăng thêm lượng đất bón lót ban đầu để cỏ có nguồn dinh dưỡng lâu dài (Trần Miên, 2012).
Hàng cỏ cần bao lâu để bắt đầu giữ được sườn?
Số liệu hiện trường trong nước cho thấy sau chín tháng cỏ cao 1 đến 1,5 m và rễ ăn sâu gần 80 cm, với tỷ lệ sống khoảng 85% (VUSTA, 2010). Bộ rễ càng sâu thì phần đóng góp vào hệ số an toàn càng lớn, từ 29% ở rễ sâu 0,5 m lên 49% ở rễ sâu 3 m trong mô hình tính (Hamdhan và cộng sự, 2023).
Tài liệu tham khảo
- Chakraborty, A. và Khan, M. S. (2024). Soil bioengineering using vetiver for climate-adaptive slope repair: Review. Natural Hazards Review. https://doi.org/10.1061/nhrefo.nheng-2014
- Chávez-Torres, J. L., Zhang, K., Rodríguez-Tapia, J. P. và Flores-Granda, A. N. (2026). Sustainable assessment of vetiver-based nature-based solutions for landslide hazard mitigation under groundwater, surcharge, and pseudo-static seismic conditions. Sustainability, 18(14), 7054. https://doi.org/10.3390/su18147054
- Hamdhan, I. N., Anugrah, R. F. V. và Awalia, S. H. A. (2023). Terracing slope stability analysis using bio-engineering soil reinforcement with 3D model approach. International Journal of GEOMATE, 25(110), 235–242. https://doi.org/10.21660/2023.110.3906
- Islam, M. S. (2025). Standard Specification for Slope Stabilization Using Vetiver Grass. The Vetiver Network International. Giấy phép CC BY-NC-SA 4.0.
- The Vetiver Network International (2002). TVNI Newsletters 1990–2002. The Vetiver Network International.
- The Vetiver Network International (n.d.). How to Plant. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/how-to-plant/
- Trần Miên (2012, 30 tháng 5). Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam. Tạp chí Năng lượng Việt Nam. https://nangluongvietnam.vn/cai-tao-phuc-hoi-moi-truong-bai-thai-mo-than-trong-dieu-kien-viet-nam-1128.html
- Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
- Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008b). Vetiver System for Slope Stabilization. The Vetiver Network International.
- VUSTA (2010, 22 tháng 2). Kết quả bước đầu trong việc trồng cỏ vetiver tại bãi thải Chính Bắc Công ty cổ phần than Núi Béo – TKV. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. https://vusta.vn/ket-qua-buoc-dau-trong-viec-trong-co-vetiver-tai-bai-thai-chinh-bac-cong-ty-co-phan-than-nui-beo-tkv-p72594.html
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




