Trang chủ › Xử lý ô nhiễm đất, nước › Chống sạt lở bãi thải mỏ: các nguyên nhân gây trượt lở và biện pháp phòng ngừa

Chống sạt lở bãi thải mỏ: các nguyên nhân gây trượt lở và biện pháp phòng ngừa

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 10/09/2026Đọc 16 phútChuyên mục Xử lý ô nhiễm đất, nước

Tóm tắt

Chống sạt lở bãi thải mỏ là việc giữ cho khối đất đá thải không trôi, không trượt xuống phía dưới chân bãi trong mùa mưa. Quy chuẩn an toàn mỏ lộ thiên quy định chiều cao tầng thải, cách dẫn nước và ba biện pháp bảo vệ chân bãi, trong đó có rải thảm thực vật. Bài viết này trình bày nguyên nhân trượt lở, vùng ảnh hưởng, yêu cầu của quy chuẩn, và giải thích lý do vì sao cỏ Vetiver có thể là một lớp trong bộ biện pháp chống sạt lở bãi thải mỏ.

Sườn đá dăm hai bên một vách taluy mỏ than được phủ bằng hai dải cỏ Vetiver mới trồng, một biện pháp thảm thực vật chống sạt lở bãi thải mỏ, hàng thông con dưới chân
Hai dải cỏ mới trồng bám trên sườn đá dăm hai bên vách; hàng thông con đã lên ở mặt bằng dưới chân.

Một bãi thải cao hàng trăm mét, đổ toàn đá thải, đứng yên suốt mùa khô, vậy đến mùa mưa điều gì quyết định nó tiếp tục đứng yên hay trôi xuống? Nếu bạn là người phụ trách an toàn của một mỏ lộ thiên, hay là chủ đầu tư phải ký vào phương án bảo vệ bãi thải, thì quy chuẩn buộc bạn làm những gì, và trồng cỏ nằm ở đâu trong số đó?

Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn nhìn bãi thải qua ba câu hỏi: nước đi đâu, hình dạng bãi dẫn nước thế nào, và dưới chân bãi có gì cần bảo vệ. Từ ba câu hỏi ấy, các điều khoản của quy chuẩn an toàn khai thác mỏ lộ thiên trở thành một danh sách việc có thứ tự, thay vì một tập văn bản.

Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn xếp đúng chỗ cho thảm thực vật, cụ thể là hàng cỏ Vetiver, trong bộ biện pháp đó: nó giữ được gì, đứng sau việc gì, và phải trồng vào lúc nào để kịp mùa mưa. Phần thiết kế hình dốc và khoảng cách hàng cỏ đã có ở bài ổn định bờ moong khai thác mỏ; bài này không lặp lại mà chỉ dẫn tới.

Nội dung bài

Bãi thải mỏ trượt lở vì những nguyên nhân nào?

Nước quyết định phần lớn, và hình dạng của bãi quyết định nước dồn về đâu.

Trước hết là quy mô của thứ đang đứng trên sườn đồi. Trung bình mỗi năm, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đổ khoảng 200 triệu mét khối đất đá thải, trong đó khoảng 57% đổ ở các bãi thải ngoài, và các bãi này tiếp tục được đổ cao thêm và mở rộng (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018). Các bãi thải cao của mỏ lộ thiên trong nước thường cao 60 đến 150 m, có nơi tới 350 m, với góc dốc sườn bãi tương đối lớn, từ 30 đến 40 độ (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Vật liệu của khối ấy là đá thải rời, gần như không có đất mịn để kết dính; vì sao điều đó làm sườn bãi thải khác hẳn một mái taluy đường đắp thì bài ổn định bờ moong khai thác mỏ đã giải thích. Ở đây chỉ cần giữ một ý: khối đá rời đứng được nhờ ma sát giữa các hòn đá với nhau, và nước làm giảm đúng phần ma sát ấy.

Có con số cho phần giảm này. Tính toán ổn định cho các bãi thải cao phổ biến 120 đến 270 m cho hệ số ổn định ở trạng thái khô từ 1,373 đến 1,794, còn ở trạng thái bão hoà nước chỉ còn từ 1,311 đến 1,598 (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018). Hệ số ổn định, hay hệ số an toàn mái dốc (factor of safety), là tỉ số giữa lực giữ và lực gây trượt; lớn hơn 1 là còn đứng.

Con số này đo trên mặt cắt tính toán chứ không đo ngoài hiện trường, và nó không nói bãi nào sẽ trượt vào mùa mưa nào. Điều nó nói là cùng một khối đá, chỉ cần ngấm nước thì biên an toàn mỏng đi thấy rõ.

Nước ngấm vào bãi từ đâu nhiều nhất? Từ chỗ nó được gom lại.

Đợt mưa từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 5 tháng 8 năm 2015 tại Quảng Ninh đo được khoảng 1.100 đến 1.600 mm (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018). Mưa lớn kéo dài đã gây xói lở mạnh tại một số bãi thải có mặt bằng dạng cánh cung lõm như Đông Cao Sơn và Chính Bắc (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Trong khi đó, các bãi đã kết thúc đổ thải và đã hoàn thổ như Nam Lộ Phong, Nam Đèo Nai, cùng các bãi đang đổ có dạng thẳng hoặc dạng cánh cung lồi như Bàng Nâu và bãi trong moong Lộ Trí, đều ổn định, hoặc chỉ hư hỏng cục bộ với phạm vi nhỏ và cường độ yếu (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Các bạn thấy gì qua quan sát này? Cùng một trận mưa, cùng một loại đá thải, nhưng bãi hình lõm gom nước vào giữa rồi dồn xuống một chỗ, còn bãi hình thẳng hoặc lồi rải nước ra nhiều hướng. Và những bãi đã có lớp phủ trên mặt thì đứng yên. Hai tác giả của tính toán trên vì thế khuyến nghị tạo hình bãi thải dạng lồi hoặc dạng thẳng để phân tán dòng chảy mặt thay vì tập trung nó (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Hình vẽ nhìn từ trên xuống ba dạng mặt bằng bãi thải mỏ gồm dạng cánh cung lõm gom nước vào giữa, dạng thẳng và dạng cánh cung lồi phân tán nước ra hai bên
Ba dạng mặt bằng bãi thải mỏ và đường nước chảy: bãi lõm gom nước về một chỗ, bãi thẳng và bãi lồi rải nước ra.

Sạt lở bãi thải ảnh hưởng tới đâu dưới chân bãi?

Vùng ảnh hưởng rộng hơn nhiều so với đường chân bãi nhìn thấy bằng mắt.

Khi đất đá thải bị sũng nước, sườn bãi chịu áp lực thuỷ động lớn nhất, góc dốc sườn giảm xuống thấp nhất, và khối trượt lan xa nhất. Với chiều cao tầng hoặc bãi thải từ 50 đến 300 m, chiều rộng lớn nhất của đai mở rộng dưới chân bãi tính được là 44 đến 361 m, và chiều rộng lớn nhất của đai trượt lở phía mép bãi là 49 đến 394 m (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018). Nói cách khác, dải đất phải chừa ra dưới chân một bãi thải bão hoà nước rộng xấp xỉ chiều cao của chính bãi ấy.

Chiều cao tầng hoặc bãi thảiĐai mở rộng dưới chân bãi, lớn nhấtĐai trượt lở phía mép bãi, lớn nhất
50 m44 m49 m
300 m361 m394 m

Điều kiện tính: đất đá thải bão hoà nước dưới tác động của dòng nước mặt (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018). Hai dòng là hai đầu của khoảng tính toán; bãi của bạn nằm ở giữa thì phải tính riêng theo mặt cắt thật.

Những con số ấy không phải lý thuyết. Năm 2006, mưa lớn kéo dài làm vỡ đập chắn đất đá thải Khe Rè của mỏ Cọc Sáu, đất đá và nước tràn xuống khu dân cư; cùng đợt, gần 500.000 mét khối đất đá tại bãi thải của mỏ Cao Sơn sụt lở, vùi lấp hoàn toàn một cửa lò cùng hệ thống máng rót và đê bảo vệ của mỏ Mông Dương nằm dưới chân. Năm 2012, khu đổ thải của mỏ than Phấn Mễ ở Thái Nguyên bất ngờ trượt lở, vùi lấp nhà của mười hộ dân sống dưới chân núi (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Quy chuẩn an toàn hiện hành ra đời trước hầu hết các sự cố kể trên, và nó đã viết sẵn cho đúng tình huống đó: khi dưới chân bãi thải có khu vực cần được bảo vệ thì mỏ phải làm gì. Đó là nội dung của mục tiếp theo.

Quy chuẩn buộc làm gì để chống sạt lở bãi thải mỏ?

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ lộ thiên xếp việc chống sạt lở bãi thải mỏ thành ba nhóm: dẫn nước, khống chế hình học, và bảo vệ chân bãi.

Về nước, quy chuẩn viết rõ: các bãi thải đang hoạt động không được để dòng nước đổ vào bãi thải, và phải hạn chế tối đa nước mưa chảy tràn qua sườn bãi thải. Bãi thải dựng trên sườn đồi núi, ở khu vực có tụ nước, có sông suối chảy qua, hoặc ở nơi không được tháo khô, phải có thiết kế xử lý dòng chảy hoặc thoát nước (QCVN 04:2009/BCT, Điều 14).

Ngay cách đổ thải cũng phục vụ việc dẫn nước: đổ thải theo bề mặt thì mặt tầng phải dốc hướng vào trong bãi từ 2 đến 3%, đổ theo chu vi thì mép ngoài phải có bờ an toàn và dốc vào trong từ 3 đến 5% (QCVN 04:2009/BCT, Điều 17). Mặt tầng nghiêng vào trong để nước mưa rơi trên mặt tầng không chảy ra mép rồi đổ xuống sườn.

Về hình học, không được đổ thải trên tầng cao lớn hơn 50 m; phải cắt tầng thải thành các phân tầng thấp theo điều kiện địa hình và tính chất cơ lý của đất đá, nhằm tránh trôi, trượt bãi thải và hạn chế bụi. Góc nghiêng của sườn bãi thải phải nhỏ hơn hoặc bằng góc trượt tự nhiên của đất đá thải đổ xuống (QCVN 04:2009/BCT, Điều 15). Hai điều khoản này chính là căn cứ pháp quy cho việc hạ độ cao và cắt tầng mà ngành than đã làm tại Núi Béo, được kể trong bài ổn định bờ moong khai thác mỏ.

Về chân bãi, đây là điều khoản đáng đọc kỹ nhất đối với người trồng cỏ. Khi dưới chân bãi thải có các khu vực cần được bảo vệ, quy chuẩn yêu cầu thực hiện các biện pháp an toàn gồm: đắp đê, đập ngăn ở chân bãi thải và ở các mức tầng thải; rải thảm thực vật trên các tầng thải và các sườn thải đã kết thúc đổ thải; và đổ thải thành các phân tầng thấp (QCVN 04:2009/BCT, Điều 15). Thảm thực vật được quy chuẩn gọi tên là một biện pháp an toàn, đứng cạnh đê và phân tầng.

Bảng dưới đây gom ba nhóm việc theo đường đi của nước, để bạn đối chiếu với bãi của mình.

Nước tới sườn bãi thải bằng đường nàoChặn ở đâuĐiều khoản
Dòng nước từ bên ngoài chảy vào bãiKhông để dòng nước đổ vào bãi; thiết kế thoát nước cho bãi ở nơi tụ nước hoặc có suối chảy quaĐiều 14
Nước mưa rơi trên mặt tầngMặt tầng dốc vào trong 2 đến 3%; bờ an toàn ở mép khi đổ theo chu viĐiều 17
Nước mưa rơi trên chính sườn tầngTầng thải không cao quá 50 m, cắt phân tầng thấp; rải thảm thực vật trên sườn đã kết thúc đổ thảiĐiều 15
Nước và đất đá đã xuống tới chânĐê, đập ngăn ở chân bãi và ở các mức tầng thảiĐiều 15

Căn cứ: (QCVN 04:2009/BCT). Nghĩa vụ lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ là một tầng pháp lý khác, đã trình bày ở bài cải tạo phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Còn một điều khoản không nằm trong bảng vì nó không chặn nước, nó chặn sự chủ quan: hằng ngày hoặc sau mỗi trận mưa, quản đốc phân xưởng phải tổ chức kiểm tra bãi thải, đường ra vào bãi và rãnh thoát nước; thấy tụt lở, nứt nẻ hoặc hư hỏng thì phải đình chỉ ngay việc đổ thải để khắc phục (QCVN 04:2009/BCT, Điều 14).

Thảm thực vật đứng ở đâu trong bộ biện pháp đó?

Thảm thực vật là lớp giữ mặt sườn, đứng sau đê và phân tầng, không đứng thay chúng.

Trước khi nói nó giữ được gì, xin giới thiệu loài cỏ mà bài này nói tới. Cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides) là loài cỏ thân bụi, trồng thành hàng liền theo đường đồng mức, bộ rễ đâm thẳng xuống thay vì lan ngang, và dòng giống trồng ở Việt Nam không kết hạt nên không lan thành cỏ dại. Nhờ hai đặc điểm ấy, một hàng cỏ Vetiver khép kín làm việc như một bờ rào sống: chặn dòng chảy mặt, giữ đất trôi lại phía trên hàng, và giữ lớp đá dăm mặt sườn bằng rễ.

Giữ được bao nhiêu? Trên mái taluy đường dốc 1 đứng 2 ngang, thí nghiệm mưa nhân tạo tại Bangladesh đo được hàng cỏ Vetiver làm giảm lượng đất mất đi 87%, từ 27,06 xuống 3,61 kg trên mỗi mét vuông trong 60 phút mưa, và giảm dòng chảy mặt 14% (Akter và cộng sự, 2026). Con số đó đo trên đất đắp mịn thay vì đá thải, và đo mất đất bề mặt thay vì ổn định khối. Với bãi thải, nó có nghĩa là hàng cỏ giữ lớp mặt sườn tầng khỏi bị xói rãnh, chứ không giữ được cả tầng cao 50 m nếu tầng ấy chưa được cắt và chưa được dẫn nước.

Ngành than trong nước đã thử đúng vai trò này từ tháng 10 năm 2007 tại bãi thải Hồng Thái và Chính Bắc, và ghi nhận cỏ Vetiver thích ứng được với điều kiện khắc nghiệt của bãi thải, giữ ổn định sườn bãi và chống xói lở tốt (Trần Miên, 2012). Quan sát sau đợt mưa năm 2015 kể ở mục đầu bài cho thêm một lớp bằng chứng: các bãi đã hoàn thổ đều ổn định qua trận mưa 1.100 đến 1.600 mm (Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh, 2018).

Hình vẽ mặt cắt một bãi thải mỏ với bốn lớp bảo vệ chống sạt lở gồm rãnh chặn nước phía trên bãi, các tầng thải thấp có mặt tầng dốc vào trong, ba hàng cỏ Vetiver đồng mức trên mỗi sườn tầng và đê ngăn ở chân bãi
Mặt cắt bốn lớp bảo vệ bãi thải mỏ có hàng cỏ Vetiver: hàng cỏ là lớp giữ mặt sườn, đứng giữa rãnh chặn nước và đê ngăn.

Tiêu chuẩn thiết kế mới của Mạng lưới Vetiver Quốc tế xếp hẳn đất đá thải mỏ vào nhóm phải dùng đủ ba lớp: hàng cỏ theo đường đồng mức, dải vải địa kỹ thuật giữa các hàng trong thời gian chờ cỏ khép, và rãnh thu nước có gia cố để nhận nước từ hàng cỏ (TVNI, DS-ENGINEERED-SLOPES v4, 2026, tr. 10).

Cùng tài liệu ấy giữ một nguyên tắc cho mọi mái dốc: nước mặt phải được chặn phía trên đỉnh và dẫn ra khỏi mặt dốc trước, và không được bỏ yêu cầu này chỉ vì đã có cỏ (TVNI, DS-ENGINEERED-SLOPES v4, 2026, tr. 12). Đó là cách nói khác của Điều 14 quy chuẩn trong nước, và hai bên gặp nhau ở cùng một thứ tự: nước trước, cỏ sau.

Vậy trên một bãi thải, hàng cỏ đặt ở đâu và cách nhau bao nhiêu? Câu đó thuộc phần thiết kế, đã có bảng quy đổi theo chênh cao và ví dụ tính cho một sườn tầng ở bài ổn định bờ moong khai thác mỏ. Còn sau lứa cỏ thì trồng cây gì để phủ xanh lâu dài, bài trồng cây trên bãi thải mỏ đã xếp theo ba lứa. Giống cỏ Vetiver của OlaFarm đã đi vào các dự án phục hồi môi trường mỏ, phần lớn qua các nhà thầu nhận hạng mục phủ xanh.

Nhóm nhân công đứng cạnh đống bao hom giống cỏ Vetiver vừa tập kết trên mặt bằng hoàn thổ tại một mỏ than, vách đá đã khai thác phía sau
Bao hom giống tập kết trên mặt bằng hoàn thổ, dưới chân một vách đá đã khai thác.

Cần làm gì trước mùa mưa để bãi thải không trượt lở?

Mùa mưa là kỳ kiểm tra, còn việc chuẩn bị nằm ở mùa khô ngay trước đó.

Quy chuẩn đặt ba mốc thời gian. Mương máng, rãnh thoát nước và các trạm bơm phải được sửa chữa, củng cố hoặc thi công xong trước mùa mưa bão. Trước mùa mưa một tháng, mỏ phải kiểm tra, xem xét lại toàn bộ hệ thống đó. Và tối thiểu sáu tháng một lần, mỏ phải đo đạc, kiểm tra an toàn các bãi thải đang hoạt động; trong những tháng mưa nhiều thì kiểm tra thường xuyên (QCVN 04:2009/BCT, Điều 94 và Điều 16).

Hàng cỏ cũng có mốc của nó, và mốc ấy đi trước mùa mưa xa hơn người ta tưởng. Tài liệu kỹ thuật của ngành than khuyến nghị trồng trên bãi thải vào vụ xuân (Trần Miên, 2012), để cây có trọn mùa mưa đầu tiên mà bén rễ và khép hàng. Tiêu chuẩn thiết kế của Mạng lưới Vetiver Quốc tế nói thẳng hơn: trồng ngoài cửa sổ mưa đáng tin cậy là nguyên nhân thất bại phổ biến nhất khi thiết lập hàng cỏ, và đó là một quyết định về lịch, không phải về tay nghề (TVNI, DS-ENGINEERED-SLOPES v4, 2026, tr. 18).

Theo kinh nghiệm cấp giống của OlaFarm, ba lỗi hay gặp nhất ở các đội thi công đều xoay quanh lịch: trồng vào mùa nắng khô mà không tưới đủ nước giai đoạn đầu; trồng xong bỏ hẳn, không có kế hoạch chăm sóc; và trồng ngay sát mùa mưa lớn trên mái đất chưa ổn định, khi cỏ chưa kịp khép hàng và rễ chưa kịp ăn sâu.

Mốc kiểm đầu tiên nên đặt sớm: giống HB06 của OlaFarm tự công bố tỷ lệ sống sau 30 ngày trồng không dưới 85% (TCCS 76:2026/HBVN), nên qua ngày thứ ba mươi mà thấp hơn mức ấy thì phải trồng dặm ngay, chứ không đợi tới lúc nghiệm thu. Cách kiểm và mốc nghiệm thu đầy đủ có ở bài nghiệm thu hàng rào Vetiver.

Nếu bạn đang chuẩn bị phương án bảo vệ bãi thải cho mùa mưa tới, hoặc đang rà lại hạng mục rải thảm thực vật trong phương án cải tạo, phục hồi môi trường, OlaFarm sẵn lòng cùng bạn tính phần giống: dòng giống hợp nền đá dăm, số tép cho từng tầng thải, lịch giao theo mùa trồng, và bộ chứng từ đi kèm lô giống cho hồ sơ nghiệm thu. Bạn có thể xem giống cỏ Vetiver cho dự án phục hồi môi trường mỏ, hoặc gửi cho chúng tôi vài tấm ảnh bãi thải cùng chiều cao và chiều dài các tầng qua trang liên hệ.

Tóm lại, chống sạt lở bãi thải mỏ là bài toán của nước và của hình dạng bãi trước khi là bài toán của cây cỏ. Quy chuẩn đã xếp sẵn thứ tự: chặn nước từ ngoài, dốc mặt tầng vào trong, cắt tầng thấp, đê ở chân, rồi rải thảm thực vật trên các sườn đã kết thúc đổ thải. Hàng cỏ Vetiver làm tốt phần việc thứ năm khi bốn phần trước đã có, và làm được việc đó chỉ khi nó được trồng đủ sớm để khép hàng trước mùa mưa.

Câu hỏi thường gặp

Bãi thải của mỏ tôi đã dừng đổ thải, chỉ trồng cỏ Vetiver có đủ chống sạt lở bãi thải mỏ không?

Chỉ trồng cỏ thì chưa đủ nếu bãi còn tầng cao trên 50 m chưa cắt, hoặc còn dòng nước từ ngoài đổ vào. Quy chuẩn đặt hàng cỏ, tức thảm thực vật, cạnh hai việc khác là đê ngăn ở chân bãi và đổ thải thành phân tầng thấp. Hàng cỏ giữ lớp mặt sườn tầng khỏi xói rãnh rất tốt, nhưng không giữ nổi một khối cao và dốc đang đứng ở đúng góc trượt tự nhiên khi nó ngấm nước.

Hình dạng mặt bằng bãi thải có thật sự ảnh hưởng đến trượt lở không?

Có, và có quan sát thực tế trong nước cho việc này. Trong đợt mưa 1.100 đến 1.600 mm năm 2015 tại Quảng Ninh, các bãi thải dạng cánh cung lõm bị xói lở mạnh, còn các bãi dạng thẳng và dạng lồi thì ổn định. Bãi lõm gom nước mặt về một chỗ rồi dồn xuống sườn, bãi lồi và bãi thẳng phân tán nước ra nhiều hướng. Nếu bãi của bạn đang lõm thì việc dẫn nước ở đỉnh và ở mặt tầng còn quan trọng hơn thường lệ.

Tôi phải kiểm tra bãi thải bao lâu một lần theo quy chuẩn?

Ba nhịp. Hằng ngày hoặc sau mỗi trận mưa, quản đốc phân xưởng phải tổ chức kiểm tra bãi thải, đường ra vào bãi và rãnh thoát nước. Tối thiểu sáu tháng một lần, mỏ phải đo đạc, kiểm tra an toàn các bãi đang hoạt động. Trước mùa mưa một tháng, mỏ phải kiểm tra lại toàn bộ hệ thống thoát nước. Thấy tụt lở, nứt nẻ hay hư hỏng thì phải đình chỉ đổ thải để khắc phục ngay.

Dưới chân bãi thải của tôi có đường và nhà dân, phải chừa cách bao xa?

Không có một con số dùng chung, vì đai ảnh hưởng phụ thuộc chiều cao bãi và trạng thái ngấm nước. Tính toán cho bãi thải bão hoà nước cho thấy với chiều cao từ 50 đến 300 m, đai mở rộng dưới chân bãi lớn nhất là 44 đến 361 m. Bãi của bạn cần được tính theo mặt cắt thật, và quy chuẩn yêu cầu đắp đê, đập ngăn ở chân bãi cùng các mức tầng thải khi dưới chân có khu vực cần bảo vệ.

Trồng cỏ trên bãi thải vào tháng nào thì kịp mùa mưa?

Tài liệu của ngành than khuyến nghị vụ xuân, để cỏ có trọn một mùa mưa bén rễ và khép hàng trước khi gặp mùa khô đầu tiên. Ngược lại, trồng ngay sát mùa mưa lớn trên sườn chưa ổn định là một trong ba lỗi hay gặp nhất mà OlaFarm thấy ở các đội thi công: cỏ chưa khép hàng thì chưa giữ được gì, và trận mưa đầu tiên có thể cuốn cả hàng cỏ mới đặt.

Tài liệu tham khảo

  • Akter, T., Acharya, S., Al-Hossain, S. J. và Robbani, G. K. (2026). Vetiver grass for road slope protection through soil erosion and runoff reduction in a haor area of the Sunamganj district. Research in Agricultural Engineering. https://doi.org/10.17221/124/2025-rae
  • Bộ Công Thương (2009). QCVN 04:2009/BCT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ lộ thiên. Ban hành kèm Thông tư số 20/2009/TT-BCT ngày 07/7/2009. https://tieuchuanxaydung.vsqi.gov.vn/quychuan/view?sohieu=QCVN+04:2009/BCT
  • Lưu Văn Thực và Đoàn Văn Thanh (2018, 11 tháng 12). Các giải pháp công nghệ đổ thải hợp lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái đối với các mỏ than khoáng sản Việt Nam. Tạp chí Điện tử Công nghiệp môi trường. https://congnghiepmoitruong.vn/cac-giai-phap-cong-nghe-do-thai-hop-ly-dap-ung-yeu-cau-bao-ve-moi-truong-sinh-thai-doi-voi-cac-mo-than-khoang-san-viet-nam-5586.html
  • OlaFarm (2026). TCCS 76:2026/HBVN Giống cỏ Vetiver HB06 — Tiêu chuẩn cơ sở. Tiêu chuẩn cơ sở tự công bố.
  • The Vetiver Network International (TVNI). (2026). VGT for Engineered Slopes: Integrated bio-hydro-mechanical system (DS-ENGINEERED-SLOPES), v4, ngày 26/08/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
  • Trần Miên (2012, 30 tháng 5). Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam. Tạp chí Năng lượng Việt Nam. https://nangluongvietnam.vn/cai-tao-phuc-hoi-moi-truong-bai-thai-mo-than-trong-dieu-kien-viet-nam-1128.html

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *