Trang chủ › Đặc tính & nhận diện › Tác dụng của cỏ Vetiver: bốn nhóm công dụng và giới hạn thực tế
Tác dụng của cỏ Vetiver: bốn nhóm công dụng và giới hạn thực tế
Tóm tắt
Tác dụng của cỏ Vetiver là những việc mà loài cỏ này làm được nhờ bốn đặc tính sinh học của nó: rễ chùm đâm thẳng và sâu, chịu được đất xấu, không phát tán bằng hạt, và sinh khối lá lớn tái sinh nhanh. Bốn đặc tính đó sinh ra bốn nhóm công dụng: giữ đất, cải thiện đất, xử lý ô nhiễm và cung cấp nguyên liệu. Bài viết này trình bày cơ chế của từng nhóm tác dụng của cỏ Vetiver kèm số đo có nguồn, và nói rõ những việc loài cỏ này không làm được.

Cỏ Vetiver có tác dụng gì, và mỗi tác dụng ấy đo được bằng con số nào? Loài cỏ này làm được tới đâu thì dừng, và có việc gì nó không làm được mà bạn cần biết trước khi đặt giống?
Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn đi từ bốn đặc tính sinh học của cây tới bốn nhóm công dụng của nó, mỗi nhóm kèm số đo và điều kiện đo. Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn nhận ra ranh giới thực tế của loài cỏ này, kể cả những chỗ số liệu không nghiêng về phía chúng tôi.
Nội dung bài
Cỏ Vetiver là cây gì, và tác dụng của nó bắt nguồn từ đâu?
Mọi tác dụng của cỏ Vetiver đều bắt nguồn từ bốn đặc tính của cây, nên hiểu bốn đặc tính này là hiểu được phần lớn phần còn lại của bài.
Cỏ Vetiver, tên khoa học Chrysopogon zizanioides, là một loài cỏ lâu năm mọc thành khóm, thân dựng đứng, cao từ 1,5 đến 2 m. Ở Việt Nam nó còn được gọi là cỏ hương bài hay cỏ hương lau. Điều khiến giới kỹ thuật quan tâm tới nó nằm ở phần dưới mặt đất: bộ rễ chùm đâm gần như thẳng đứng và đi rất sâu.
| Đặc tính của cây | Tác dụng kéo theo | Nơi tác dụng đó có giá trị |
|---|---|---|
| Rễ chùm đâm gần thẳng đứng, dày và sâu, sức kháng kéo cao | Xâu khối đất lại thành một mảng, neo qua mặt trượt, để lại kênh dẫn nước trong đất | Mái taluy, bờ sông, đất canh tác trên dốc |
| Chịu được biên độ rộng về pH, mặn, phèn, ngập và hạn | Sống và phủ xanh được nơi phần lớn cây trồng khác chết | Bãi thải mỏ, đất phèn mặn, hồ xử lý nước thải |
| Ra hoa nhưng hạt gần như không nảy mầm, không có thân bò ngang | Không trở thành cỏ dại, không tranh chỗ của cây trồng chính | Vườn cây ăn trái, đất canh tác, khu vực gần công trình |
| Sinh khối lá lớn, tái sinh nhanh sau mỗi lần cắt | Cắt lấy nguyên liệu nhiều lần mà không phải trồng lại; cắt cũng là cách mang chất ô nhiễm ra khỏi hiện trường | Nghề đan lát, lợp mái, tủ gốc, thu hồi ô nhiễm |
Trong bốn đặc tính đó, đặc tính thứ ba mới là điều kiện khiến ba đặc tính còn lại dùng được. Một loài cỏ rễ khoẻ mà lại phát tán bằng hạt thì không ai dám trồng gần ruộng hay gần công trình.
Cỏ Vetiver giữ đất và chống sạt lở bằng cơ chế nào?
Cỏ Vetiver giữ đất theo hai đường tách biệt, một đường cơ học và một đường thuỷ văn, và hai đường này làm việc cùng lúc.

Đường thứ nhất là cơ học. Khi một khối đất bắt đầu muốn trượt, những sợi rễ xuyên qua mặt trượt bị kéo căng và kháng lại lực trượt đó. Rễ hoạt động như một mảng neo sống, khác đinh đất kim loại ở chỗ nó không bị ăn mòn mà còn khoẻ dần theo thời gian. Sức kháng kéo (tensile strength) của rễ là chỗ loài cỏ này bỏ xa các loài khác, theo thí nghiệm kéo rễ của Hengchaovanich và Nilaweera (1996):
| Loại rễ | Sức kháng kéo | Căn cứ |
|---|---|---|
| Rễ cỏ Vetiver | 40–120 MPa, trung bình khoảng 75 MPa | thí nghiệm kéo rễ 1996 |
| Rễ cỏ nói chung | 2–20 MPa | thí nghiệm kéo rễ 1996 |
| Rễ liễu | 9–36 MPa | thí nghiệm kéo rễ 1996 |
| Rễ dương | 5–38 MPa | thí nghiệm kéo rễ 1996 |
Đường thứ hai là thuỷ văn. Lá thoát hơi nước liên tục nên cây rút bớt ẩm khỏi nền đất, trong khi nước đọng lại chính là tác nhân trực tiếp của phần lớn sự cố mái dốc.
Hai đường này cộng lại thành bao nhiêu đất giữ được? Trên cùng một điều kiện đất dốc tại Việt Nam, lượng đất mất hằng năm là 27,1 tấn mỗi hecta ở lô đối chứng, 5,7 tấn ở lô canh tác theo cách truyền thống, và 0,8 tấn ở lô có hàng cỏ Vetiver (Truong và Loch, 2004).
Con số đó nghĩa là gì trên một thửa đất thật? Chênh lệch giữa lô đối chứng và lô có hàng cỏ là 26,3 tấn cho mỗi hecta mỗi năm. Lấy dung trọng đất khô khoảng 1,3 tấn cho một mét khối, đây là ví dụ tính giả định để bạn hình dung, thì 26,3 tấn tương đương chừng 20 mét khối đất. Trải đều trên một hecta, đó là một lớp đất dày khoảng 2 mm biến mất mỗi năm, và bạn không nhìn thấy nó cho tới khi tầng mặt mỏng hẳn đi.
Riêng về độ sâu rễ, có một chỗ dễ nhầm mà OlaFarm muốn nói thẳng. Tài liệu quốc tế ghi nhận rễ dài 3 đến 4 m ở nơi đất tơi, tầng dày và thoát nước tốt, và con số này được nhắc lại rất nhiều. Nhưng khi đo thực tế trên taluy đường Hòn Bà tại Khánh Hoà, rễ chỉ đạt 1,2 đến 1,9 m sau 24 tháng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 79). Khi lập phương án cho một công trình ở Việt Nam, bạn nên tính theo bộ số đo trong nước cho chắc.
→ Quy trình gia cố mái taluy bằng cỏ Vetiver · Giống cỏ Vetiver chống sạt lở, xói mòn
Cỏ Vetiver làm đất thấm nước và tốt dần lên như thế nào?
Bộ rễ đi thẳng xuống để lại trong đất những kênh dẫn và lỗ rỗng lớn, nên nước mưa thấm nhanh và sâu hơn thay vì chảy tràn trên mặt.
Một thí nghiệm dùng cột đất cao 1,8 m theo dõi qua hai mùa mưa cho thấy khác biệt rất rõ. Cột có trồng cỏ Vetiver thấm khoảng 1.467 lít, gần như toàn bộ lượng mưa rơi xuống. Cột đất trần chỉ thấm khoảng 465 lít, còn mặt cột thì đóng váng và mất dần lớp đất mặt (Bhadsavle và cộng sự, 2026).
Chuyện thấm nước còn một mặt nữa mà ít tài liệu tiếng Việt nhắc tới. Theo dõi bằng minirhizotron suốt 18 tháng qua các chu kỳ khô và ẩm, Yuliana và cộng sự (2025) đo được hai kết quả đi ngược chiều nhau. Vùng có rễ cỏ Vetiver nứt nẻ co ngót ít hơn hẳn, chỉ số cường độ nứt và bề rộng khe nứt đều giảm một nửa so với đất trần. Nhưng hệ số thấm bão hoà trong mùa khô lại tăng 16 lần ở vùng có cỏ, trong khi đất trần chỉ tăng 5 lần, và khe nứt quay trở lại vào giai đoạn rễ phân huỷ.
Đất thấm nhanh là điều tốt trên ruộng, vì nước xuống được tầng dưới thay vì chảy tràn mang đất đi. Trên một mái dốc thì phải cân nhắc thêm, vì nước ngấm nhanh cũng làm áp lực nước lỗ rỗng (pore water pressure) trong thân dốc tăng lên. Đây chính là lý do băng cỏ đi kèm hệ thống thoát nước chứ không thay thế nó.
Cỏ Vetiver còn đóng vai một cây tiên phong: nó ổn định mặt đất và cải thiện vi khí hậu tại chỗ trước, nhờ đó các loài khác bám vào được sau. Trên đất xấu, cây kéo các chỉ số hoá học về phía tốt hơn. Tại Ninh Thuận, rễ xuyên qua lớp kiềm vôi cứng xuống 70 cm chỉ sau ba tháng, độ pH tính từ mặt đất tới độ sâu 1 m giảm 2 độ, và lượng muối natri hoà tan giảm hơn một nửa (Lê Văn Dũ và Truong, 2006).
Phần chất hữu cơ cây trả lại cho đất cũng đã được đo. Trong thí nghiệm nhà kính trên ba loại đất Úc, tiềm năng sinh khối khô của cỏ Vetiver đạt 67,7 tấn mỗi hecta ở phần thân lá và 52,5 tấn mỗi hecta ở phần rễ; rễ phân huỷ nhanh hơn thân lá trên đất sét vì tỷ lệ carbon trên đạm của rễ thấp hơn (Tessema và cộng sự, 2022). Đây là số trong điều kiện nhà kính, chưa phải năng suất ngoài đồng, nhưng nó cho biết khối lượng chất hữu cơ mà một khóm cỏ có thể đưa xuống đất theo thời gian.
→ Giống cỏ Vetiver cải tạo đất canh tác · Cải tạo đất: nhận diện đất xấu và chọn đúng cách
Cỏ Vetiver xử lý được những chất ô nhiễm nào, tới ngưỡng nào?
Cỏ Vetiver sống được trong môi trường ô nhiễm ở mức mà phần lớn cây cỏ khác chết, và khoảng cách giữa hai ngưỡng lớn hơn nhiều so với hình dung thông thường.
| Chất trong đất | Ngưỡng cỏ Vetiver chịu được | Ngưỡng cây cỏ khác |
|---|---|---|
| Asen (As) | 100–250 mg/kg | 2,0 mg/kg |
| Cadimi (Cd) | 20–60 mg/kg | 1,5 mg/kg |
| Niken (Ni) | 100 mg/kg | 7–10 mg/kg |
| Selen (Se) | trên 74 mg/kg | 2–14 mg/kg |
| Chì (Pb) | trên 1.500 mg/kg | — |
| Kẽm (Zn) | trên 750 mg/kg | — |
Căn cứ: tổng hợp số đo quốc tế trong cẩm nang kỹ thuật (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 97).

Cơ chế gồm hai phần. Bộ rễ dày tạo diện tích bám rất lớn cho vi sinh vật phân huỷ chất hữu cơ, còn bản thân cây thì hấp thu nitơ và phospho dư thừa, hai thủ phạm chính gây phú dưỡng nguồn nước. Sau đó cỏ được cắt và mang đi theo chu kỳ, nhờ vậy chất ô nhiễm bị tách hẳn khỏi vòng tuần hoàn tại chỗ chứ không quay lại khi cây tàn.
Cây hút được bao nhiêu, và nhiễm nhiều chất cùng lúc thì sao? Trong thí nghiệm gây nhiễm đất bằng cadimi, chì, đồng và kẽm, Ng và cộng sự (2020) đo thấy chiều cao cây không khác đối chứng có ý nghĩa thống kê, tức là cây vẫn phát triển bình thường. Trên đất nhiễm hỗn hợp cả bốn kim loại, cây tích luỹ kẽm 3.322 mg mỗi kilogam, đồng 430 mg, chì 197 mg và cadimi 100 mg, đều cao hơn khi đất chỉ nhiễm một chất.
Nhưng khả năng đó có ngưỡng, và ngưỡng ấy đã được đo. Trong thí nghiệm thuỷ canh trên nước thải nhà máy thuốc nổ, cỏ Vetiver xử lý tốt nitơ ở nồng độ thấp, nhưng khi vượt 3.800 mg N mỗi lít với nitrat, 800 mg với nitrit và 2.600 mg với amoni thì tốc độ xử lý giảm hẳn sau 7 ngày và cây bắt đầu vàng lá (Aliasghar và cộng sự, 2025). Đây là lý do vị trí hợp lý của loài cỏ này trong một dây chuyền xử lý là công đoạn bậc hai hoặc bậc ba, sau khi phần nồng độ cao đã được xử lý cơ học hoặc hoá lý.

→ Giống cỏ Vetiver xử lý ô nhiễm đất và nước
Lá và rễ cỏ Vetiver sau khi cắt dùng được vào việc gì?
Phần cắt đi của cỏ Vetiver không phải là phế phẩm, và biết trước nó dùng được vào việc gì sẽ đổi cách bạn tính bài toán chi phí.
Lá. Lá cỏ Vetiver chứa nhiều silic hơn các loài cỏ nhiệt đới khác nên lâu mục, đúng điều bạn cần ở một lớp vật liệu tủ gốc. Lớp phủ này đã được dùng cho cà phê và cacao ở Tây Nguyên cũng như cho chè ở Ấn Độ, vừa trị cỏ dại vừa tăng thấm nước và giảm bốc hơi (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 53).
Lá cũng là nguyên liệu cho nghề đan lát và lợp mái. Riêng dòng HB06 mà OlaFarm chọn lọc có lá cứng và phiến rộng 1 đến 1,5 cm nên hợp cả hai việc này, theo tiêu chuẩn cơ sở của OlaFarm.
Nếu bạn nuôi gia súc thì lá non cắt định kỳ khoảng 1 đến 1,5 tháng một lần có giá trị dinh dưỡng tương đương cỏ mật và cỏ Kikuyu trưởng thành (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 117–118).


Có một hướng dùng lá mới hơn, đáng chú ý với những dự án xử lý ô nhiễm. Thân lá cỏ Vetiver sau khi đã hút chất ô nhiễm vẫn lên men được thành ethanol sinh học thế hệ hai: 19,58 gam mỗi lít từ cây trồng trên đất sạch, 19,50 gam từ cây đã hút chì và 19,17 gam từ cây đã hút kháng sinh (Neve và cộng sự, 2022). Nghĩa là khối sinh khối vốn bị coi là chất thải nguy hại có thể trở thành nguyên liệu, tuy chỗ này còn ở quy mô phòng thí nghiệm.
Rễ. Tinh dầu vetiver được chưng cất từ rễ, không lấy từ lá. Đây là loại tinh dầu nặng, mùi trầm ấm, ngành hương liệu dùng làm hương nền và chất định hương, và chính công dụng này sinh ra cái tên cỏ hương bài tại Việt Nam. Trồng để lấy rễ thì thời gian tới lúc thu hoạch là 18 đến 24 tháng, khi hàm lượng tinh dầu trong rễ đạt cao nhất.
Một điều bạn phải tính ngay từ khi lập phương án: thu hoạch rễ đồng nghĩa với phá bỏ khóm cỏ. Không thể vừa chưng cất tinh dầu vừa gia cố mái dốc trên cùng một diện tích, và bạn cần chọn một trong hai.
→ Lá cỏ Vetiver làm nguyên liệu · Giống cỏ Vetiver lấy tinh dầu, hương nhang
Những việc cỏ Vetiver không làm được là gì?
Cỏ Vetiver có bốn giới hạn rõ ràng, và biết trước chúng thì phương án của bạn chắc hơn.
Cỏ Vetiver không chịu được bóng râm. Bị che bóng thì cây kém phát triển, và bóng che kéo dài có thể làm mất cây (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 116). Hệ quả thực tế là băng cỏ trồng giữa hàng trong vườn cây ăn trái sẽ yếu dần khi vườn giao tán, nên bạn cần tính trước phương án cho giai đoạn đó.
Cỏ Vetiver không thay được kè cứng khi mái dốc mất chân. Cây làm việc trong tầng đất mặt và xử lý xói bề mặt cùng trượt nông rất tốt. Khi khối trượt nằm sâu hơn tầng rễ với tới, hoặc khi dòng chảy đang khoét mất chân dốc, phần chịu lực vẫn phải là công trình và cỏ chỉ là lớp bảo vệ đi kèm.
Cỏ Vetiver không tự lan ra phủ kín giúp bạn. Đây là mặt trái của chính đặc tính khiến cây an toàn. Cỏ chỉ nở khóm tại chỗ, nên trồng thưa thì hàng cỏ thưa mãi, nước luồn qua khe hở và xói thành rãnh. Việc phủ kín nằm ở khâu thiết kế mật độ và khâu thi công.
Không phải dòng cỏ Vetiver nào cũng vô sinh. Phần lớn các dòng đang dùng trong kỹ thuật đều ra hoa mà không kết hạt, nhưng một ecotype hoang dại ở nam Trung Quốc lại hữu thụ, với tỷ lệ đậu hạt 19,2%, hơn 95% bông rụng trong vòng 20 ngày sau khi trổ và tỷ lệ nảy mầm rất thấp (Liu và cộng sự, 2021). Con số đó cho thấy tính vô sinh là đặc điểm của dòng giống bạn mua, không phải của cả loài.
Rủi ro thật nằm ở chỗ mua giống. Tại Việt Nam hiện có một số đơn vị bán một loài cỏ cũng được gọi là cỏ Vetiver nhưng tên khoa học là Chrysopogon nemoralis. Điều bạn cần biết là loài không quyết định bằng dòng giống: tiêu chuẩn thiết kế quốc tế bản 2026 đòi hỏi dùng dòng vô sinh, không kết hạt, và chỉ cho dùng C. nemoralis ở nơi loài đó vốn đã có sẵn tại địa phương và được cho phép rõ ràng (Tiêu chuẩn thiết kế DS-ENGINEERED-SLOPES v4, 2026).
Rủi ro nằm ở chỗ mua phải dòng hữu thụ, vì hạt tự phát tán rồi thành cỏ dại. Vì vậy khi mua giống, bạn hãy yêu cầu đơn vị cung cấp xác nhận bằng văn bản cả tên khoa học lẫn tính vô sinh của dòng giống, chứ không chỉ hỏi tên loài.
Nếu bạn muốn biết tác dụng của cỏ Vetiver có hợp với một thửa đất, một mái taluy hay một hồ xử lý cụ thể hay không, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem xét điều kiện thực tế trước khi bàn tới chuyện đặt giống. Bạn có thể gửi cho chúng tôi vị trí, diện tích, độ dốc và mục đích sử dụng qua trang liên hệ, và xem trước ba dòng giống cùng quy cách tại trang giống cỏ Vetiver.
→ Nhược điểm và hạn chế của cỏ Vetiver
Tóm lại, tác dụng của cỏ Vetiver bắt nguồn từ bốn đặc tính của cây chứ không từ một công dụng riêng lẻ nào, nên cách chọn đúng là bắt đầu từ việc hỏi đặc tính nào của cây hợp với vấn đề của bạn. Bộ rễ cho khả năng giữ đất và làm đất thấm nước; sức chịu đựng rộng cho khả năng sống trong môi trường ô nhiễm; sinh khối lá cho nguyên liệu và cho cách mang chất ô nhiễm ra khỏi hiện trường.
Bốn giới hạn cũng rõ như bốn công dụng: cây không chịu bóng, không thay được kết cấu công trình, không tự phủ kín, và tính vô sinh là chuyện của dòng giống chứ không của cả loài.
Câu hỏi thường gặp về tác dụng của cỏ Vetiver
Tôi trồng bao lâu thì thấy tác dụng của cỏ Vetiver?
Hàng cỏ bắt đầu cản được dòng chảy mặt sau khoảng 4 đến 6 tháng, khi các khóm nở đủ để khép kín thành hàng liên tục. Tác dụng neo giữ khối đất đi theo bộ rễ nên đến chậm hơn, thường qua mùa mưa thứ hai mới rõ. Trong năm đầu, bạn vẫn cần dặm lại những hốc chưa lên và giữ cho cỏ dại không lấn.
Tôi có cắt cỏ Vetiver cho gia súc ăn được không?
Có, nhưng chỉ với lá non. Lá non cắt định kỳ khoảng 1 đến 1,5 tháng một lần có giá trị dinh dưỡng tương đương cỏ mật và cỏ Kikuyu trưởng thành. Lá già thì cứng và nhiều silic nên gia súc không ăn, phần lá đó hợp với việc tủ gốc hoặc đan lát hơn.
Tôi trồng cỏ Vetiver rồi thì sau này nó có lan ra khó kiểm soát không?
Không, nếu bạn trồng đúng loài Chrysopogon zizanioides và đúng dòng giống kỹ thuật. Cây ra hoa nhưng hạt gần như không nảy mầm, và nó cũng không có thân bò ngang, nên chỉ nở khóm tại chỗ. Muốn nhân ra nơi khác thì phải có người tách khóm và trồng lại. Rủi ro lan thành cỏ dại xảy ra khi bạn mua nhầm dòng Chrysopogon nemoralis, loài có kết hạt.
Tôi trồng xen cỏ Vetiver thì nó có hút hết dinh dưỡng của cây trồng chính không?
Không. Rễ cỏ Vetiver đi thẳng xuống và gần như không có rễ ngang, nên khi trồng xen nó không tranh dinh dưỡng và nước với cây trồng chính. Rễ còn giữ lại phần dinh dưỡng hoà tan đang bị nước cuốn trôi, và nếu bạn cắt lá phủ lại luống thì phần dinh dưỡng đó quay về đất (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 35).
Tôi cần mua giống cỏ Vetiver thì liên hệ với OlaFarm thế nào?
OlaFarm có vườn giống riêng và cung cấp ba dòng Monto, Songkhla 3 và HB06 ở dạng tép rễ trần, cụm rễ trần và bầu ươm. Bạn hãy cho chúng tôi biết mục đích công trình, vị trí và diện tích, chúng tôi sẽ tư vấn dòng giống cùng dạng cung cấp phù hợp rồi gửi báo giá theo đúng điều kiện thực tế. Trong giờ làm việc, yêu cầu của bạn thường được phản hồi trong khoảng 5 phút.
Tài liệu tham khảo
- Aliasghar, A., Zhang, Z., Datta, R., Christodoulatos, C. và Sarkar, D. (2025). Accumulation of nitrogen species from industrial wastewater by vetiver grass (Chrysopogon zizanioides). Water, 17(10), 1464. https://doi.org/10.3390/w17101464
- Bhadsavle, C., Nivalkar, A. và Agivale, P. (2026). Measurement of rainwater infiltration capacity of vetiver grass using 1.8 m plastic circular column. The Vetiver Network International. https://vetiver.org/wp-content/uploads/2026/01/Vetiver-Grass-RWI_c.pdf
- Hengchaovanich, D. và Nilaweera, N. S. (1996). An assessment of strength properties of vetiver grass roots in relation to slope stabilization. Trong Proceedings of the First International Conference on Vetiver, Chiang Rai, Thái Lan.
- Lê Văn Dũ và Truong, P. (2006). Vetiver system for improving saline and alkaline soils in Ninh Thuận, Vietnam. Trong Proceedings of the Fourth International Conference on Vetiver, Caracas.
- Liu, W., Lin, X., Luo, J., Yao, M., Gu, Y., Xie, M., Liu, J. và Ma, Q. (2021). Seedling production from seeds of a wild ecotype of vetiver grass (Vetiveria zizanioides L.) in Southern China. American Journal of Plant Sciences, 12(3), 394–405. https://doi.org/10.4236/ajps.2021.123025
- Neve, S., Sarkar, D., Zhang, Z. và Datta, R. (2022). Optimized production of second-generation bioethanol from a spent C4 grass: vetiver (Chrysopogon zizanioides). Energies, 15(24), 9597. https://doi.org/10.3390/en15249597
- Ng, C. C., Boyce, A. N., Abas, M. R., Mahmood, N. Z. và Han, F. (2020). Evaluation of vetiver grass uptake efficiency in single and mixed heavy metal contaminated soil. Environmental Processes, 7(1), 207–226. https://doi.org/10.1007/s40710-019-00418-2
- Tessema, B., Wilson, B., Daniel, H., Kristiansen, P. và Baldock, J. A. (2022). Functional links between biomass production and decomposition of vetiver (Chrysopogon zizanioides) grass in three Australian soils. Plants, 11(6), 778. https://doi.org/10.3390/plants11060778
- The Vetiver Network International (2026). VGT for Engineered Slopes: Integrated bio-hydro-mechanical system (DS-ENGINEERED-SLOPES), v4, ngày 26/08/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
- Truong, P. và Loch, R. (2004). Vetiver system for erosion and sediment control. Trong Proceedings of the 13th International Soil Conservation Organisation Conference (tr. 1–6), Brisbane. https://topsoil.nserl.purdue.edu/isco/isco13/PAPERS%20R-Z/TRUONG.pdf
- Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
- Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008c). Vetiver System for Agriculture. The Vetiver Network International.
- Yuliana, Y., Apriyono, A., Kamchoom, V., Boldrin, D., Cheng, Q. và Tang, C. S. (2025). Seasonal dynamics of root growth and desiccation cracks and their effects on soil hydraulic conductivity. Engineering Geology, 349, 107973. https://doi.org/10.1016/j.enggeo.2025.107973
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




