Trang chủ › Cải tạo đất › Đất nhiễm phèn là gì? Nguyên nhân, tác hại và cách cải tạo

Đất nhiễm phèn là gì? Nguyên nhân, tác hại và cách cải tạo

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 12/09/2026Đọc 16 phútChuyên mục Cải tạo đất

Tóm tắt

Đất nhiễm phèn không tự nhiên xấu đi, nó hoá chua sau khi tầng sinh phèn bị lật lên gặp không khí. Bài này nêu bốn hướng cải tạo đang dùng ở đồng bằng sông Cửu Long, ngưỡng chịu phèn của cỏ Vetiver, và cách trồng để cỏ sống được trên nền đất chua.

Quy trình phèn hoá một vùng đất nhiễm phèn qua mặt cắt hai trạng thái: bên trái tầng sinh phèn xám xanh nằm trọn dưới mực nước ngầm cao và không phản ứng, bên phải kênh đào đã hạ mực nước nên không khí lọt xuống, tầng phèn chuyển vàng với đốm jarosite và sinh axit sulfuric
Chính con người mở đầu phản ứng, chứ không phải đất tự xấu đi. Bên trái là mảnh đất còn ngập; bên phải vẫn mảnh đất ấy sau khi đào kênh hạ nước.

“Ruộng tôi bón đủ phân mà lúa vẫn vàng, rễ ngắn cũn, vì sao?” Câu hỏi ấy thường có lời đáp nằm dưới mặt ruộng nửa mét.

Trong bài này, OlaFarm sẽ giúp bạn đọc ra dấu hiệu đất phèn và chọn hướng xử lý hợp với ruộng của mình. Có những mảnh ruộng bón đủ phân mà lúa vẫn vàng, rễ ngắn cũn và bộ lá không bung ra được. Đào xuống chừng nửa mét thì gặp một tầng đất xám xanh, hoặc thấy những đốm vàng rơm bám dọc kẽ nứt. Đó là dấu hiệu của đất nhiễm phèn, và vấn đề nằm ở hoá học của đất chứ không nằm ở lượng phân bạn đã bỏ ra.

Hiểu được cái tầng đất bên dưới ấy sinh ra từ đâu thì bạn sẽ biết vì sao có những việc tưởng là cải tạo lại làm ruộng chua thêm.

→ Cỏ Vetiver là cây gì, đặc điểm và ứng dụng

Nội dung bài

Đất nhiễm phèn là gì

Đất nhiễm phèn là đất chứa nhiều axit sulfuric, hoặc chứa sẵn thứ vật liệu sẽ sinh ra axit đó ngay khi gặp không khí. Trong tài liệu quốc tế, loại đất này được gọi là acid sulfate soil. Người miền Tây gọi ngắn gọn là đất phèn, và phân biệt rất rõ giữa đất phèn còn nằm yên với đất phèn đã bốc lên.

Vì sao đất lại hoá phèn

Câu chuyện bắt đầu từ hàng nghìn năm trước, ở những vùng cửa sông và ven biển ngập nước quanh năm. Nước biển mang theo sulfat, phù sa mang theo sắt, còn xác cây cỏ phân huỷ trong điều kiện thiếu khí sinh ra môi trường khử. Ba thứ đó gặp nhau và tạo nên khoáng pyrite, tức sắt sulfua, tích tụ dần trong tầng đất sâu.

Chừng nào tầng ấy còn nằm dưới mực nước ngầm thì nó hoàn toàn vô hại. Nhưng khi bạn đào kênh, hạ mực nước để lấy đất canh tác, lên liếp hay phơi ải, không khí sẽ len xuống tới tầng pyrite. Pyrite gặp oxy và nước thì bị oxy hoá, sinh ra axit sulfuric. Axit này ăn vào khoáng sét trong đất, kéo nhôm và sắt tan ra thành ion tự do.

Chính vì vậy mà đất phèn thường bốc lên mạnh nhất ngay sau khi con người can thiệp vào mực nước, chứ đất không tự nhiên xấu đi.

Phèn tiềm tàng và phèn hoạt động khác nhau chỗ nào

Hai tên gọi này mô tả hai giai đoạn của cùng một mảnh đất, và phân biệt được chúng thì bạn biết mình còn bao nhiêu dư địa để can thiệp.

Đất phèn tiềm tàng là đất còn giữ nguyên tầng pyrite chưa bị oxy hoá, thường có màu xám xanh và mùi trứng thối nhẹ khi mới đào lên. Độ chua ở tầng mặt có thể chưa đáng ngại, nhưng ngòi nổ đã nằm sẵn bên dưới. Đào sâu quá tầng đó là bạn tự châm ngòi.

Đất phèn hoạt động là đất đã oxy hoá, nhận ra được bằng những đốm jarosite màu vàng rơm bám dọc kẽ nứt và theo các ống rễ cũ. Đây là lúc độ chua đã hình thành và cây bắt đầu chịu hậu quả.

Độ nông sâu của tầng phèn thay đổi rất nhiều dù chỉ cách nhau vài chục cây số. Khảo sát ở Đồng Tháp Mười cho thấy vùng Thạnh Hoá thuộc Long An đã có đốm jarosite ngay trong lớp 50 cm đầu tiên, trong khi ở Tân Thạnh và Tân Lập vật liệu sinh phèn nằm sâu hơn 80 cm (Hùng và cộng sự, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 2017). Đó là lý do bạn nên tự đào một hố kiểm tra trên chính mảnh đất của mình thay vì áp dụng kinh nghiệm của ruộng bên cạnh.

Đất nhiễm phèn ở Việt Nam rộng đến đâu

Kết quả khảo sát 79 phẫu diện đất trên toàn đồng bằng cho thấy đất phèn chiếm khoảng 1,6 triệu hecta, tức hơn 40% diện tích của cả vùng, trải trên bốn khu vực là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau và vùng trũng sông Hậu. Cũng theo khảo sát đó, tầng sinh phèn thường xuất hiện ở độ sâu 46,8 đến 57,8 cm (Dương Thanh Nhã và cộng sự, 2010).

Lấy một ví dụ cho dễ hình dung: một cái ao đào sâu 1,2 m trên nền đất ấy chắc chắn đã cắt qua tầng sinh phèn, và toàn bộ đất moi lên đắp bờ sẽ hoá chua sau vài tuần phơi nắng. Đó là lý do bờ ao mới đắp hay trắng xoá và không cây nào bám được.

Con số độ sâu ấy đáng để bạn ghi lại, bởi nó nằm đúng trong tầm của hầu hết mọi việc làm đất: xẻ mương, lên liếp, đào ao, đắp bờ. Chỉ cần lưỡi cuốc chạm tới đó và lớp đất được lật lên phơi nắng là phản ứng bắt đầu.

Về mức độ chua, các phẫu diện ở Đồng Tháp Mười cho pH tầng mặt trong khoảng 2,9 đến 4,2, kèm hàm lượng nhôm và sắt độc ở mức trung bình đến cao, còn các cation trao đổi có ích thì thấp (Dương Thanh Nhã và cộng sự, 2010). Trên những vùng phèn nặng nhất, độ chua vào mùa khô có thể tụt xuống pH 2,0 đến 3,0 (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 70).

Đất nhiễm phèn gây hại gì cho cây trồng

Cái hại của đất phèn không nằm ở một chỗ mà đến từ nhiều hướng cùng lúc, nên bón thêm phân thường không giải quyết được.

Nhôm tự do làm hỏng bộ rễ. Khi pH tụt xuống dưới khoảng 4, nhôm trong khoáng sét tan ra thành ion và đầu độc chóp rễ. Rễ ngừng dài ra, đầu rễ hoá nâu và cụt, cây mất khả năng vươn xuống tìm nước lẫn dinh dưỡng. Đây là lý do cây trên đất phèn hay chết vào đúng đợt nắng, dù đợt nắng ấy không gay gắt hơn mọi năm.

Lân bón vào bị giữ chặt. Sắt và nhôm trong đất chua kết hợp với lân thành hợp chất mà rễ không lấy được. Bạn bón lân nhưng cây gần như không nhận được bao nhiêu, và phần lớn tiền phân nằm lại trong đất.

Đất mất bộ máy sinh học. Độ chua gắt làm giảm mạnh hoạt động của vi sinh vật phân giải chất hữu cơ, nên chất hữu cơ tích lại mà không chuyển hoá thành dinh dưỡng cây dùng được.

Bờ và mặt đất bở rời rồi trôi đi. Đất phèn có hàm lượng sét cao nên khi khô thì nứt thành mảng lớn, các kẽ nứt cho nước lọt sâu vào thân bờ, và mùa lũ về thì bờ kênh, bờ liếp bị xói rất mạnh. Trong khi đó rất ít cây bản địa trụ được qua mùa khô trên nền đất này, kể cả những loài vốn được coi là chịu phèn tốt (Vetiver System for Agriculture, TVNI, tr.62). Mặt đất trần không có gì che, và vòng xói mòn cứ thế lặp lại từng năm.

Các hướng cải tạo đất nhiễm phèn đang được dùng

Không có một biện pháp đơn lẻ nào xử lý trọn vẹn đất phèn. Cách làm hiệu quả là kết hợp vài hướng dưới đây, và điều quan trọng nhất là đừng làm bốc thêm phèn mới trong lúc đang chữa phần phèn cũ.

Hướng cải tạoBạn làm gìĐược gìCần lưu ý
Rửa phènĐưa nước ngọt vào ngâm rồi tháo ra theo mương tiêu, lặp lại nhiều lầnKéo bớt axit và ion nhôm, sắt ra khỏi tầng canh tácCần nguồn nước ngọt chủ động và mương tiêu thoát được. Nước rửa mang axit đi nơi khác nên phải có chỗ tiêu hợp lý
Bón vôiRải vôi bột theo liều tính từ độ chua thực đo, bón trước khi xuống giốngNâng pH và hạ độc nhôm nhanh hơn những cách khácChỉ tác dụng ở lớp đất được trộn vôi. Bón một lần không xong, phải theo dõi và bón lại
Bón phân hữu cơPhân chuồng hoai mục, rơm rạ, phân xanh vùi vào tầng mặtChất hữu cơ giữ bớt nhôm, cải thiện kết cấu và nuôi lại vi sinh vậtCho kết quả chậm, thường phải qua vài vụ mới thấy rõ
Giữ nước, không phơi tầng sinh phènDuy trì mực nước, làm đất nông, hạn chế đào sâu quá tầng phènNgăn phản ứng oxy hoá tiếp diễn, giữ nguyên trạng phần phèn tiềm tàngĐây là hướng phòng, chưa phải hướng chữa. Làm tốt việc này thì ba việc trên mới có ý nghĩa lâu dài

Ngoài bốn hướng trên còn một việc thường bị bỏ quên: phủ kín mặt đất và giữ lấy bờ. Đất phèn đã cải tạo mà để trần thì mỗi mùa lũ lại mất đi phần đất mặt vừa gây dựng được, và bờ kênh sạt tới đâu thì tầng phèn bên dưới lộ ra tới đó. Trồng cây chịu được độ chua để giữ mặt đất là cách chặn vòng lặp ấy, và cũng là chỗ cỏ Vetiver đóng vai trò của mình.

→ Cây chống xói mòn đất: các loại cây phổ biến và cách chọn đúng

Cỏ Vetiver làm được gì trên đất nhiễm phèn

Cỏ sống được trên đất phèn — nhưng sống được mới chỉ là điều kiện cần. Câu đáng hỏi là trồng nó lên đó thì bạn được gì. Dưới đây là bốn việc hàng cỏ làm trên nền đất chua, và cũng là lý do các tuyến đê bao ở đồng bằng sông Cửu Long chọn nó.

Trước hết là biên độ chịu đựng, vì không có nó thì không có việc nào sau đây. Cỏ sống và phát triển bình thường trong khoảng pH 3,3 đến 9,5, chịu được mức nhôm bão hoà 68 đến 87% (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 15).

Sức chịu ấy không chỉ dừng ở đất ruộng. Trên nước thải mỏ có tính axit mạnh kèm sunfat và kim loại cao ở Illinois, cỏ Vetiver vẫn xử lý được qua nhiều đợt thí nghiệm dài ngày, và một nghiên cứu năm 2021 đã đo phản ứng sinh lý của cây dưới áp lực kép axit cộng kim loại (Kiiskila và cộng sự, 2021). Đối chiếu với pH thực đo 2,9 đến 4,2 ở Đồng Tháp Mười thì phần lớn diện tích đất phèn nằm trong hoặc sát ngưỡng đó.

Hai thí nghiệm gần đây ở Nam Phi và Indonesia nhìn từ phía nước. Cho nước thải mỏ axit chảy qua bể đất trồng cỏ Vetiver trong 30 ngày, chỉ số chịu đựng của cây là 1,03, tức cây gần như không suy; bể loại được 71% sắt, 70% kẽm, 62% mangan, 57% nhôm và 55% sunfat, phần lớn kim loại nằm lại ở nền đất và trong rễ (Nguegang và cộng sự, 2021). Với đất phèn, hai con số đáng mang về là sắt và nhôm, đúng hai thứ làm cây trồng chết ở mục trên.

Trên bè nổi thả trong nước mỏ axit, pH tăng và mangan hoà tan giảm 75 đến 91%, nhưng bè làm bằng vật liệu hữu cơ lại đẩy BOD tăng 61 đến 80% (Sekarjannah và cộng sự, 2023). Đó là cái giá phải tính trước nếu bạn định dùng bè cỏ cho ao nuôi trên vùng phèn.

Biên độ chịu đựng của cỏ Vetiver trên đất nhiễm phèn đặt trên thang pH từ 2 đến 11: dải pH cỏ Vetiver sống được kéo từ 3,3 đến 9,5, phủ gần trọn khoảng chua của đất phèn vùng Đồng Tháp Mười pH 2,9 đến 4,2 và đất phèn nặng pH 2,0 đến 3,0, với mốc pH 4 là ngưỡng nhôm gây độc
Phần lớn diện tích đất phèn tại Đồng Tháp Mười nằm trong hoặc sát ngưỡng cỏ Vetiver có thể sống được.

Giữ bờ kênh và bờ đê khỏi sạt

Đây là ứng dụng nổi bật của cỏ Vetiver. Bờ kênh đắp bằng chính đất phèn thì nứt nẻ vào mùa khô, nước lọt sâu vào thân bờ, rồi mùa lũ xói mạnh.

Cỏ Vetiver đã được dùng để giữ bờ kênh và đê tại năm công trình trên nền đất phèn nặng ở Việt Nam: một tuyến đê bao chống lũ ở Tiền Giang, ba công trình ở Long An và một đoạn đê gần Thành phố Hồ Chí Minh. Số đo cho thấy trong bốn tháng, bờ để trần mất 400 đến 750 tấn đất mỗi hecta, còn đoạn bờ có hàng cỏ chỉ mất 50 đến 100 tấn; sau mười hai tháng thì lượng đất mất đi không còn đáng kể (Vetiver System for Agriculture, TVNI, tr.62–63, dẫn Lê Văn Dũ và Trương, 2006).

Giữ lại phần đất mặt bạn vừa cải tạo

Rửa phèn, bón vôi, bón hữu cơ đều tốn công và tốn tiền, và tất cả đều dồn vào lớp đất mặt. Để mặt đất trần thì mỗi mùa nước lên lại lấy đi một phần thành quả ấy, kể cả vôi và phân vừa bón.

Hàng cỏ Vetiver trồng theo đường đồng mức hoặc dọc mép bờ chắn dòng chảy tràn, hãm tốc độ nước và giữ phù sa lại phía trên hàng. Nhờ vậy công cải tạo của vụ này còn nguyên cho vụ sau, thay vì phải làm lại từ đầu.

Chặn bớt vòng bốc phèn mới

Mục 1 đã nói phèn bốc lên khi không khí lọt xuống tới tầng sinh phèn, và kẽ nứt mùa khô chính là đường đi của nó. Mặt đất được cỏ che kín thì bớt phơi nắng trực tiếp, giữ ẩm lâu hơn và nứt ít hơn.

Cỏ Vetiver không trung hoà axit như vôi, nên nó không thay được biện pháp hoá học. Cái nó làm là giảm bớt điều kiện để phản ứng tiếp diễn, và đó là phần mà bón vôi không với tới.

Trả chất hữu cơ về nền đất đang thiếu nó

Đất phèn có bộ máy sinh học yếu, chất hữu cơ tích lại mà khó chuyển hoá. Khi hàng cỏ Vetiver đã khép kín, bạn cắt ngọn chừa gốc 20 đến 30 cm rồi lấy phần lá cắt được phủ lên những khoảng đất còn trống giữa các hàng.

Vì sao bước phủ lá lại quan trọng đến vậy: hàng cỏ chỉ giữ được đất ngay tại chân hàng, còn khoảng trống giữa hai hàng vẫn trơ ra dưới mưa và vẫn nứt nẻ vào mùa khô. Lớp lá phủ che kín khoảng trống ấy, đỡ hạt mưa xối thẳng xuống mặt đất, giữ ẩm để đất bớt nứt, và hãm dòng chảy tràn không cho nó cuốn đất giữa hai hàng đi. Ở các công trình đồng bằng sông Cửu Long, bờ kênh chỉ được ghi nhận là ổn định hoàn toàn sau khi có thêm bước phủ lá này, chứ không chỉ nhờ hàng cỏ (Vetiver System for Agriculture, TVNI, tr.63).

Kèm theo đó là một điểm đáng cân nhắc về chi phí: trên bờ kênh tiêu đất phèn ở bắc Queensland của Úc, cỏ bén rễ và đạt chiều cao 80 cm sau tám tháng mà không cần bón phân (Truong và Baker, Vetiver Grass in the Rehabilitation of Toxic and Contaminated Lands in Australia).

Mở đường cho cây khác quay lại

Ở Gò Công thuộc Tiền Giang, cỏ được trồng từ năm 2001 để giữ kênh tưới tiêu và hệ thống đê biển trên nền đất phèn. Cỏ mọc mạnh trên thân đê chỉ sau vài tháng dù đất rất xấu, và về sau còn tạo được điều kiện cho các loài cỏ bản địa quay lại bám mặt đê (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 86).

Đó là cách dùng đáng giá nhất trên đất khó: hàng cỏ giữ mặt đất và cải thiện chỗ đứng trong vài năm đầu, để thảm thực vật tự nhiên có cơ hội trở lại thay nó.

Trồng cỏ Vetiver trên đất phèn thế nào cho cỏ sống

Đây là phần quyết định, và lứa giống đầu tiên thường là chỗ hỏng.

Ba cây giống cỏ Vetiver đặt cạnh nhau gồm một khóm rễ trần và hai cây bầu ươm, hai dạng giống dùng cho đất nhiễm phèn
Bên trái là khóm rễ trần, hai cây bên phải là bầu ươm. Trên nền đất phèn mới đào, khác biệt giữa hai dạng giống này quyết định cỏ sống hay chết.

Đừng cắm tép rễ trần thẳng vào đất phèn mới đào. Khảo sát trên năm công trình kể ở mục trên ghi nhận không một tép rễ trần nào sống sót khi được trồng trực tiếp vào nền đất phèn còn tươi. Đất quá chua trong đúng giai đoạn cỏ cần bén rễ, và cây chưa kịp ra rễ mới đã chết.

Cách khắc phục thì đơn giản và rẻ. Cũng trên nền đất đó, chỉ cần rạch rãnh trồng rồi bón lót một ít vôi bột, hoặc một ít đất mặt tốt, hoặc phân chuồng hoai mục vào rãnh, thì hơn 80% số tép rễ trần sống và phát triển bình thường (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 70–71).. Chỗ đất được cải thiện quanh gốc giúp cỏ vượt qua giai đoạn bén rễ, sau đó bộ rễ tự đâm xuống tầng chua bên dưới mà không cần thêm gì.

Bầu ươm là phương án chắc ăn hơn. Theo kinh nghiệm vườn giống của OlaFarm, đơn hàng cho đất phèn gần như luôn là bầu ươm, và khách nào từng thử tép rễ trần trên nền phèn mới đào thì lần sau đều chuyển sang bầu. Cây trồng bằng bầu ươm mang theo cả bầu đất sạch nên bén rễ dễ ngay cả trên đất phèn nặng. Bù lại, bầu ươm nặng hơn khi vận chuyển, giá cao hơn tép rễ trần, và bạn cần đặt trước khoảng một tháng rưỡi đến hai tháng để vườn ươm kịp chuẩn bị.

Mặt cắt ba rãnh trồng cỏ Vetiver trên cùng một nền đất nhiễm phèn: rãnh rễ trần không bón lót thì cây héo rũ, rãnh rễ trần có lớp vôi hoặc phân chuồng thì hơn 80% sống, rãnh bầu ươm thì bén rễ dễ
Cùng một nền đất, chỉ khác cách đặt giống xuống, và kết quả chênh nhau giữa chết sạch với sống hơn tám phần mười.

Sau khi cỏ đã bén, phần việc còn lại nhẹ nhàng. Trên đất chua phèn, chúng tôi khuyên bạn bón lót khoảng 100 g NPK cho mỗi mét dài của hàng và thêm chừng 100 g vôi bột. Khi hàng cỏ đã khép kín, bạn cắt ngọn chừa gốc cao 20 đến 30 cm rồi lấy phần lá cắt được phủ lên những khoảng đất còn trống trên bờ. Ở các công trình đồng bằng sông Cửu Long, chính bước phủ lá này đã giúp bờ kênh ổn định hoàn toàn.

Về dòng giống, chúng tôi khuyên dùng HB06 cho nền đất phèn. Đây là dòng OlaFarm tự chọn lọc từ năm 2016, chịu được phèn, mặn, ngập và hạn, nên hợp với những mảnh đất vừa chua vừa có mùa nước lên. Cỏ giống được bán ở cả ba dạng là tép rễ trần, cụm và bầu ươm, cùng một mức giá giữa các dòng.

→ Kỹ thuật trồng cỏ Vetiver từ khâu làm đất đến chăm sóc

Tóm lại, đất nhiễm phèn hoá chua vì tầng sinh phèn bị lật lên gặp không khí, nên việc đầu tiên là biết tầng ấy nằm ở độ sâu nào rồi tránh chạm vào. Cỏ Vetiver chịu được gần trọn dải pH mà đất phèn Việt Nam có, nhưng tép rễ trần cắm thẳng vào nền phèn mới đào thì gần như không sống. Hai con số đáng ghi lại từ vụ đầu là độ sâu tầng sinh phèn và tỷ lệ sống sau ba tháng.

Bạn đang định trồng trên nền đất phèn và chưa rõ nên chọn quy cách nào? Hãy gửi cho OlaFarm độ pH đo được, ảnh hiện trạng bờ hoặc ruộng và diện tích. Chúng tôi sẽ tư vấn dòng giống, quy cách và cách bón lót trong rãnh trồng. Bạn có thể liên hệ OlaFarm hoặc gửi yêu cầu báo giá.

Câu hỏi thường gặp về đất nhiễm phèn

Tôi nhận biết đất nhiễm phèn trên ruộng của mình bằng cách nào?

Bạn đào một hố sâu khoảng một mét rồi nhìn mặt cắt. Đất nhiễm phèn hoạt động có những đốm vàng rơm bám dọc kẽ nứt và theo ống rễ cũ, còn đất phèn tiềm tàng cho một tầng xám xanh, ướt, có mùi trứng thối nhẹ khi mới xắn lên. Nước trong mương thường trong veo nhưng có váng vàng hoặc váng đỏ ở mép. Muốn chắc chắn thì bạn đo pH đất, vì con số nói rõ hơn mọi dấu hiệu bên ngoài.

Bón vôi có xử lý dứt điểm được đất nhiễm phèn không?

Bón vôi nâng pH và hạ độc nhôm nhanh hơn những cách khác, nhưng nó chỉ có tác dụng ở lớp đất mà vôi được trộn vào. Tầng sinh phèn nằm sâu bên dưới vẫn còn nguyên và vẫn tiếp tục sinh axit mỗi khi bị phơi ra không khí. Vì vậy bón vôi cần đi cùng việc giữ mực nước để không làm bốc thêm phèn mới, và cần được lặp lại theo dõi qua từng vụ.

Vì sao ruộng nhà tôi càng đào mương, lên liếp thì lại càng bị phèn nặng hơn?

Vì việc đào và hạ mực nước đã đưa không khí xuống tới tầng chứa pyrite. Chừng nào tầng đó còn ngập nước thì nó nằm yên, nhưng khi tiếp xúc với oxy thì nó sinh ra axit sulfuric và giải phóng nhôm, sắt. Tầng này thường nằm ở độ sâu khoảng nửa mét nên rất dễ chạm phải. Trước khi đào sâu, bạn nên thăm dò xem tầng phèn nằm ở đâu để tránh lật nó lên.

Cỏ Vetiver có sống được trên đất nhiễm phèn nặng không?

Cỏ sống được trong khoảng pH 3,3 đến 9,5 và chịu được mức nhôm bão hoà 68 đến 87%, tức là bao phủ gần trọn dải chua của đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Điểm khó duy nhất nằm ở giai đoạn bén rễ trên đất phèn mới đào. Bạn xử lý được điều đó bằng cách bón lót một ít vôi hoặc phân chuồng vào rãnh trồng, hoặc dùng cây bầu ươm.

Trồng cỏ Vetiver có làm giảm độ chua của đất phèn không?

Cỏ Vetiver không trung hoà axit như vôi. Việc nó làm là giữ đất mặt khỏi trôi, che phủ để đất bớt nứt nẻ và bớt bị phơi ra không khí, đồng thời tạo lớp phủ hữu cơ khi bạn cắt lá. Nói cách khác, cỏ giữ lấy thành quả của những biện pháp hoá học và ngăn vòng xói mòn lặp lại, chứ không thay thế việc bón vôi hay rửa phèn.

Tài liệu tham khảo

  • Dương Thanh Nhã, Lê Văn Phát, Lê Quang Trí, Võ Quang Minh và Ngô Ngọc Hưng (2010). Một số đặc điểm hình thái phẫu diện của đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 14, 243–249.
  • Kiiskila, J. D., Sarkar, D. và Datta, R. (2021). Differential protein abundance of vetiver grass in response to acid mine drainage. Physiologia Plantarum. https://doi.org/10.1111/ppl.13477
  • Nguegang, B., Masindi, V., Msagati, T. A. M. và Tekere, M. (2021). The treatment of acid mine drainage using vertically flowing wetland: Insights into the fate of chemical species. Minerals, 11(5), 477. https://doi.org/10.3390/min11050477
  • Sekarjannah, F. A., Mansur, I., Abidin, Z. và Fauzi, A. M. (2023). Phytoremediation of acid mine drainage with Melaleuca cajuputi, Nauclea orientalis, and Vetiveria zizanioides in floating treatment wetland. HAYATI Journal of Biosciences, 30(3), 491–499. https://doi.org/10.4308/hjb.30.3.491-499
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008b). Vetiver System for Slope Stabilization. The Vetiver Network International.
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008c). Vetiver System for Agriculture. The Vetiver Network International.

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *