Trang chủ › Kiến thức › Taluy là gì? Phân loại mái taluy và nguyên tắc gia cố
Taluy là gì? Phân loại mái taluy và nguyên tắc gia cố
Tóm tắt
Taluy là gì, taluy âm khác taluy dương ra sao, con số 1:1,5 trên bản vẽ đọc thế nào và độ dốc bao nhiêu thì đạt chuẩn Việt Nam. Bài này trả lời gọn từng câu, kèm bảng quy đổi độ dốc và tiêu chuẩn nghiệm thu khi phủ xanh mái.

Bạn gặp chữ này trên bản tin sạt lở mùa mưa, trên hợp đồng thi công, hoặc trên bản vẽ mà người ta vừa đưa cho bạn ký. Nó là một trong những từ nghề bị dùng nhiều nhất mà lại ít khi được giải thích. Dưới đây là nghĩa gốc của chữ này, cách phân loại theo tiêu chuẩn, cách đọc con số độ dốc trên bản vẽ, và những nguyên tắc gia cố bạn nên nắm trước khi ngồi bàn với nhà thầu.
Nội dung bài
- Taluy là gì?
- Taluy âm và taluy dương khác nhau ở chỗ nào?
- Độ dốc mái taluy ghi 1:1,5 nghĩa là gì?
- Độ dốc taluy bao nhiêu thì đạt chuẩn Việt Nam?
- Cơ taluy là gì và khi nào bắt buộc phải có?
- Bốn nhóm nguyên nhân khiến mái taluy hỏng
- Nguyên tắc gia cố mái taluy mà bạn không nên bỏ qua
- Câu hỏi thường gặp về taluy
1. Taluy là gì?
Taluy là phần mặt đất nghiêng ở hai bên một nền công trình, hình thành khi người ta đào bạt vào sườn đất hoặc đắp đất cao lên khỏi mặt địa hình tự nhiên. Nói gọn hơn: taluy chính là mái dốc nhân tạo ôm lấy hai bên con đường, cái đê, cái hồ hay khu mặt bằng vừa san.
Chữ này mượn từ tiếng Pháp talus, nghĩa là sườn dốc. Hệ thống đường bộ và đường sắt đầu tiên của Việt Nam do người Pháp thiết kế, nên hàng loạt từ nghề của ngành cầu đường đi thẳng từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ở lại tới hôm nay.
Tiêu chuẩn quốc gia định nghĩa chặt hơn. Theo TCVN 9436:2012 về thi công và nghiệm thu nền đường ô tô, điều 3.7, mái ta luy là ranh giới hai bên của nền đào, hoặc ranh giới hai bên của nền đắp, hoặc ranh giới hai bên của nền nửa đào nửa đắp. Định nghĩa nghe khô nhưng rất chính xác: taluy không phải một khối vật liệu, nó là bề mặt giới hạn của khối đất bạn vừa đào đi hoặc vừa đắp lên.
Hệ quả của định nghĩa đó rất thực tế. Taluy không tự nhiên mà có, nó luôn là sản phẩm của một quyết định thiết kế. Ai đó đã chọn đào sâu bao nhiêu, đắp cao bao nhiêu và để mặt dốc nghiêng bao nhiêu độ. Khi một mái taluy sạt xuống, gần như luôn có thể lần ngược về một trong các quyết định đó.
Viết “taluy”, “ta luy” hay “ta-luy” mới đúng?
Cả ba đều đang được dùng và không cách nào sai. Trong văn bản tiêu chuẩn, chẳng hạn TCVN 9436:2012, cách viết chính thức là “ta luy” tách hai âm tiết. Trong đời sống, trên báo chí và trên phần lớn hồ sơ thi công, người ta viết liền thành “taluy” cho gọn. Bài này dùng cách viết liền, còn khi trích nguyên văn tiêu chuẩn thì giữ đúng chữ của tiêu chuẩn.
2. Taluy âm và taluy dương khác nhau ở chỗ nào?
Đây là cặp từ bạn nghe nhiều nhất ngoài công trường, và cũng là cặp từ gây nhầm nhiều nhất, vì nó không nằm trong tiêu chuẩn. Nó là cách gọi theo vị trí quan sát của người đứng trên mặt đường.
- Taluy dương là phần mái dốc tính từ mặt đường trở lên, tức là mái đất phía núi, phía trên đầu bạn.
- Taluy âm là phần mái dốc tính từ mặt đường trở xuống, tức là mái đất phía vực, phía dưới chân bạn.

Tiêu chuẩn thì phân loại theo cách khác, theo cách khối đất được tạo ra chứ không theo chỗ người ta đứng nhìn:
| Cách gọi ngoài công trường | Thuật ngữ tiêu chuẩn | Khối đất hình thành thế nào |
|---|---|---|
| Taluy dương | Ta luy đào | Đào bạt vào sườn đất tự nhiên, hạ thấp xuống dưới mặt địa hình sẵn có |
| Taluy âm | Ta luy đắp | Đắp thêm đất đá lên cao hơn mặt địa hình tự nhiên tại chỗ |
(Phân loại nền đào và nền đắp: TCVN 9436:2012, điều 3.4 và 3.5.)
Vì sao hai cách gọi không phải lúc nào cũng trùng nhau
Phần lớn trường hợp thì taluy dương đúng là taluy đào, taluy âm đúng là taluy đắp. Nhưng có một dạng nền rất phổ biến ở đường miền núi làm hai cách gọi lệch nhau: nền nửa đào nửa đắp, tức là trên cùng một mặt cắt ngang, một phần đường nằm trên đất đào và phần còn lại nằm trên đất đắp (TCVN 9436:2012, điều 3.6).
Ở dạng nền này, mái phía núi là taluy đào và cũng là taluy dương, còn mái phía vực là taluy đắp và cũng là taluy âm. Cho tới đây thì trùng. Nhưng nếu tuyến đường đi vòng qua một sườn đồi và địa hình đổi chiều, mái phía dưới chân bạn hoàn toàn có thể vẫn là đất nguyên thổ chưa hề đắp. Lúc đó gọi nó là “taluy âm” thì đúng theo cách nhìn, mà xử lý nó như một mái đắp thì sai hoàn toàn về kỹ thuật, vì đất nguyên thổ và đất mới đắp có ứng xử khác hẳn nhau.
Vì vậy khi trao đổi với nhà thầu hay tư vấn thiết kế, bạn nên dùng cặp từ đào và đắp. Nói “mái taluy đắp cao 9 m” thì người nghe hiểu ngay khối đất đó do con người đắp lên, còn nói “taluy âm cao 9 m” thì họ vẫn phải hỏi lại.
3. Độ dốc mái taluy ghi 1:1,5 nghĩa là gì?
Trên mọi bản vẽ mặt cắt ngang, độ dốc mái taluy được ghi dưới dạng một tỷ số kiểu 1:1,5 hoặc 1:1,0. Đây là chỗ nhiều người đọc nhầm, và đọc nhầm ở đây dẫn thẳng tới một mái dốc đứng gần gấp rưỡi mức thiết kế.
Trong tiêu chuẩn Việt Nam, số đứng trước là chiều cao, số đứng sau là chiều rộng. Ghi 1:1,5 nghĩa là cứ lên cao 1 mét thì mái phải lùi ngang ra 1,5 mét. Số sau càng lớn thì mái càng thoải, càng an toàn và càng tốn mặt bằng.
Từ tỷ số đó bạn quy ra được hai cách diễn đạt khác. Góc dốc tính bằng arctang của chiều cao chia chiều rộng. Độ dốc phần trăm thì đơn giản hơn, lấy chiều cao chia chiều rộng rồi nhân 100.
| Tỷ số 1:n (cao : ngang) | Góc dốc | Độ dốc phần trăm | Đọc là |
|---|---|---|---|
| 1 : 0,3 | 73,3° | 333 % | Gần như dựng đứng, chỉ đá cứng mới đứng nổi |
| 1 : 0,5 | 63,4° | 200 % | Rất đứng |
| 1 : 0,75 | 53,1° | 133 % | Đứng |
| 1 : 1,0 | 45,0° | 100 % | Ngưỡng trên của mái đất |
| 1 : 1,25 | 38,7° | 80 % | Hơi thoải |
| 1 : 1,5 | 33,7° | 67 % | Thoải, mức phổ biến nhất cho mái đất |
| 1 : 1,75 | 29,7° | 57 % | Thoải |
| 1 : 2 | 26,6° | 50 % | Rất thoải |
| 1 : 2,5 | 21,8° | 40 % | Mái đê, mái kè |
| 1 : 3 | 18,4° | 33 % | Mái ngập nước |
| 1 : 4 | 14,0° | 25 % | Gần như mặt bằng nghiêng |

Cái bẫy ít người cảnh báo: tài liệu quốc tế ghi ngược lại
Tài liệu kỹ thuật tiếng Anh viết tỷ số này theo thứ tự ngang trước, đứng sau, thường kèm chữ H và V cho rõ. Cùng một mái dốc 33,7°, tiêu chuẩn Việt ghi 1:1,5 còn tài liệu quốc tế ghi 1.5:1 hoặc 1,5(H):1(V).
Hai con số y hệt nhau, đảo chỗ, và nghĩa thì trái ngược. Nếu bạn cầm bản vẽ Việt ghi 1:1,5 mà đọc theo thói quen quốc tế, bạn sẽ hiểu thành 1 ngang trên 1,5 cao, tức khoảng 56°. Đó là một mái dốc vượt xa ngưỡng an toàn cho đất, và nếu con số sai đó đi vào khâu thi công thì hậu quả không nằm trên giấy nữa.
Cách kiểm nhanh mà chúng tôi vẫn dùng: nhìn con số lớn hơn nằm ở đâu. Với mái đất, con số lớn hơn gần như luôn thuộc về chiều ngang, vì mái đất bao giờ cũng phải lùi ra nhiều hơn là dâng lên. Thấy 1:1,5 trong hồ sơ Việt thì hiểu là 1,5 mét ngang. Thấy 1.5:1 trong tài liệu Anh ngữ thì cũng là 1,5 mét ngang. Bám vào chiều ngang thì bạn không đọc nhầm hệ nào cả.
4. Độ dốc taluy bao nhiêu thì đạt chuẩn Việt Nam?
Không có một con số chung cho mọi mái taluy. Độ dốc cho phép phụ thuộc vào loại đất đá và chiều cao mái, và tiêu chuẩn quy định riêng cho mái đào với mái đắp.

Mái đào
TCVN 4054:2005 về yêu cầu thiết kế đường ô tô, điều 7.7.1 và Bảng 24:
| Loại và tình trạng đất đá | Mái cao ≤ 12 m | Mái cao > 12 m |
|---|---|---|
| Đất loại dính hoặc kém dính, trạng thái chặt vừa đến chặt | 1 : 1,0 | 1 : 1,25 |
| Đất rời | 1 : 1,50 | 1 : 1,75 |
| Đá cứng phong hoá nhẹ | 1 : 0,3 | 1 : 0,5 |
| Đá cứng phong hoá nặng | 1 : 1,0 | 1 : 1,25 |
| Đá loại mềm phong hoá nhẹ | 1 : 0,75 | 1 : 1,0 |
| Đá loại mềm phong hoá nặng | 1 : 1,00 | 1 : 1,25 |
Tiêu chuẩn còn ghi thêm rằng với nền đào đất, chiều cao mái dốc không nên vượt quá 20 m. Và trước khi chốt độ dốc thiết kế, người thiết kế phải đi khảo sát các mái đào cùng các sườn dốc tự nhiên đã ổn định lâu dài có điều kiện địa chất tương tự ở vùng lân cận. Đây là một yêu cầu rất đáng chú ý, vì nó thừa nhận rằng bảng tra chỉ là điểm khởi đầu, còn bằng chứng thật nằm ở những mái đã đứng vững nhiều năm ngay cạnh tuyến.
Khi mái cao hơn 12 m, bảng tra không còn đủ. Điều 7.7.2 buộc phải tính kiểm toán ổn định ở trạng thái bất lợi nhất, tức là lúc đất đá phong hoá bão hoà nước, và hệ số ổn định nhỏ nhất phải bằng hoặc lớn hơn 1,25.
Mái đắp
TCVN 4054:2005, điều 7.8.1 và Bảng 25:
| Loại đất đá | Mái cao < 6 m | Mái cao 6 đến 12 m |
|---|---|---|
| Các loại đá phong hoá nhẹ | 1 : 1 đến 1 : 1,3 | 1 : 1,3 đến 1 : 1,5 |
| Đá khó phong hoá cỡ lớn hơn 25 cm xếp khan | 1 : 0,75 | 1 : 1,0 |
| Đá dăm, đá sỏi, sạn, cát lẫn sỏi sạn, xỉ quặng | 1 : 1,3 | 1 : 1,3 đến 1 : 1,5 |
| Cát to và cát vừa, đất sét và cát pha, đá dễ phong hoá | 1 : 1,5 | 1 : 1,75 |
| Đất bụi, cát nhỏ | 1 : 1,75 đến 1 : 2 | 1 : 1,75 đến 1 : 2 |
Nền đắp đi qua vùng ngập nước phải thoải hơn hẳn. Điều 7.8.3 yêu cầu mái từ 1:2 đến 1:3 cho phần nằm dưới mức nước ngập thông thường, và từ 1:1,75 đến 1:2,0 cho phần dưới mức nước thiết kế. Lý do rất dễ hình dung: khi nước rút, khối đất bão hoà nước nặng thêm rất nhiều mà lực dính thì giảm, nên mái phải thoải hơn mới cân được.
Về chiều cao, điều 7.8.5 chốt hai trần: mái dốc đắp đất không nên quá 16,0 m, đắp đá không nên quá 20,0 m. Vượt 12 m thì phải kiểm toán ổn định như với mái đào.
Nhìn hai bảng cạnh nhau, bạn thấy ngay một quy luật: vật liệu càng rời rạc thì mái càng phải thoải, và mái càng cao thì càng phải thoải thêm nữa. Đá cứng phong hoá nhẹ đứng được ở 1:0,3, tức hơn 73°, trong khi cát nhỏ phải nằm xuống tới 1:2, tức chỉ còn 26,6°. Cùng một chiều cao mái, hai loại vật liệu này chiếm mặt bằng chênh nhau gần bảy lần.
→ Kỹ thuật trồng cỏ Vetiver chống sạt lở: quy trình thi công bảy bước
5. Cơ taluy là gì và khi nào bắt buộc phải có?

Khi mái taluy cao, người ta không để nó chạy một mạch từ chân lên đỉnh. Thay vào đó, cứ một khoảng chiều cao lại chen vào một dải phẳng nằm ngang, chia mái thành nhiều tầng. Dải phẳng đó ngoài công trường gọi là cơ taluy, trong tiêu chuẩn gọi là bậc thềm.
Cơ taluy làm ba việc cùng lúc. Nó cắt chiều dài dòng nước chảy trên mặt dốc, nên nước không kịp lấy đà và không bào thành rãnh sâu. Nó hứng nước rồi dẫn ra ngoài bằng một cái rãnh xây dọc theo bậc. Và nó chia một khối trượt lớn tiềm tàng thành nhiều khối nhỏ, mỗi khối chỉ chịu phần chiều cao của tầng mình.
Tiêu chuẩn quy định như sau:
| Loại mái | Khi nào làm bậc thềm | Kích thước bậc | Điều khoản |
|---|---|---|---|
| Mái đào, qua nhiều tầng lớp đất đá khác nhau | Ngay tại chỗ đổi độ dốc | Rộng 1 đến 3,0 m, dốc 5 % đến 10 % nghiêng về phía trong rãnh, có rãnh thoát nước xây trên bậc | TCVN 4054:2005, 7.7.3 |
| Mái đào, cùng một loại đất đá nhưng cao | Cứ 6 m đến 12 m chiều cao | Như trên | TCVN 4054:2005, 7.7.3 |
| Mái đắp đất tương đối cao | Cứ 8 m đến 10 m chiều cao | Rộng 1,0 m đến 3,0 m, có dốc ngang và rãnh xây | TCVN 4054:2005, 7.8.4 |
Chi tiết dễ bị bỏ qua nhất trong bảng trên là hướng dốc của mặt bậc. Bậc thềm phải nghiêng 5 % đến 10 % vào phía trong, tức là về phía chân mái tầng trên, chứ không nghiêng ra ngoài. Bậc nghiêng ra ngoài thì nước dồn ra mép rồi đổ tự do xuống tầng dưới, và chỉ sau vài trận mưa là mép bậc bị khoét thành khe.
Bỏ cơ trên một mái cao thì cái giá phải trả không phải giả thuyết. Tổng kết dự án trồng cỏ bảo vệ taluy dọc đường Hồ Chí Minh ghi nhận rằng ở một số vị trí taluy cao, dốc và không giật cấp, hiện tượng trượt lở vẫn tiếp tục xảy ra dù đã có biện pháp bảo vệ bề mặt (cẩm nang TVNI, tr.62). Nói cách khác, lớp phủ bề mặt không gánh thay được phần hình học của mái.
6. Bốn nhóm nguyên nhân khiến mái taluy hỏng
Gần như mọi ca hỏng chúng tôi gặp ngoài công trình đều rơi vào một trong bốn nhóm dưới đây, và thường là hai ba nhóm cùng lúc.
Nước. Đây là nhóm chúng tôi gặp nhiều hơn hẳn ba nhóm còn lại. Nước mặt chảy tràn bào mặt mái thành rãnh xói, nước ngấm làm khối đất nặng thêm và giảm lực dính giữa các hạt, nước ngầm tạo áp lực đẩy từ bên trong ra. Một mái taluy có hệ thống rãnh đỉnh, rãnh cơ và rãnh chân hoạt động tốt thì bền hơn hẳn mái cùng độ dốc mà thoát nước kém.
Độ dốc chọn sai so với loại đất. Bảng 24 và Bảng 25 tồn tại chính vì lý do này. Một mái cát nhỏ để ở 1:1,0 sẽ trôi dần dù chưa cần mưa lớn, đơn giản vì góc đó vượt góc nghỉ tự nhiên của vật liệu. Sai ở khâu này thì mọi biện pháp bảo vệ bề mặt phía sau đều chỉ kéo dài thời gian.
Bỏ khâu hoàn thiện bề mặt. Sau khi đào hoặc đắp xong, mặt mái phải được sửa cho đúng độ dốc và đúng độ bằng phẳng, rồi đầm nén lại. TCVN 9436:2012 điều 7.4.2 yêu cầu đầm nén bề mặt mái đắp bằng đầm lăn với số lần từ 3 lần trên một điểm trở lên, và cứ 20 m dài phải kiểm tra chất lượng hoàn thiện tại một mặt cắt ngang. Mặt mái tơi xốp không đầm là mặt mái mất lớp trên ngay trận mưa đầu.
Để mặt mái trần. Đất đỏ vừa gạt xong không có gì che thì chỉ vài trận mưa là hình thành rãnh xói. Trong bốn nhóm thì đây là nhóm bạn xử lý được sớm nhất và ít tốn kém nhất, bằng cách phủ xanh mặt mái ngay khi vừa hoàn thiện xong hình dạng.
→ Xói mòn đất: nguyên nhân, tác hại và giải pháp khắc phục
7. Nguyên tắc gia cố mái taluy mà bạn không nên bỏ qua

Nguyên tắc thứ nhất: gia cố chỉ đặt lên mái đã ổn định
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, và cũng là nguyên tắc bị vi phạm nhiều nhất vì nó buộc người ta phải chờ. TCVN 9436:2012 điều 10.1.1 quy định rõ: chỉ được thi công các công trình phòng hộ và gia cố trên các mái ta luy đã chắc chắn ổn định, không có nguy cơ bị nước ngầm phá hoại, đã hoàn thiện bề mặt và đã được kiểm tra nghiệm thu mặt ta luy.
Bốn điều kiện, phải đủ cả bốn. Ốp đá, đổ khung bê tông hay trồng cỏ lên một mái đang có nguy cơ trượt sâu thì lớp gia cố sẽ trượt xuống cùng khối đất, và bạn mất luôn cả tiền lớp gia cố. Nếu mái của bạn đang có dấu hiệu trượt sâu, việc phải làm trước là xử lý ổn định tổng thể, còn lớp bảo vệ bề mặt đi sau.
Nguyên tắc thứ hai: chọn biện pháp theo mức khắc nghiệt của mái
Ba nhóm biện pháp, xếp theo mức độ can thiệp tăng dần:
| Nhóm | Gồm những gì | Hợp với mái nào |
|---|---|---|
| Mềm | Trồng cỏ, trồng cây bụi, kết hợp lưới sinh học phân huỷ được | Mái đất đã ổn định, độ dốc trong ngưỡng bảng tra, không có dòng chảy tập trung |
| Kết hợp | Cỏ trồng trong ô khung bê tông hoặc ô xây đá, cỏ kèm tường bó chân | Mái cao, đất dễ trôi trong lúc chờ cây bén rễ, hoặc chân mái bị nước cuốn |
| Cứng | Tường phòng hộ xếp đá khan, xây đá, xây viên bê tông đúc sẵn, thả rọ đá, tường chắn | Mái chịu sóng, chịu dòng chảy mạnh, hoặc mái không thể hạ dốc |
Tiêu chuẩn thiết kế đường không coi trồng cỏ là giải pháp tạm. TCVN 4054:2005 điều 7.7.5 liệt kê thẳng trồng cỏ, trồng cây bụi cùng hàng với bọc mặt neo các ô dàn bê tông, trong danh sách biện pháp gia cố mái đào chống xói lở bề mặt và chống đất đá phong hoá sạt lở cục bộ.
Nguyên tắc thứ ba: phủ xanh cũng có tiêu chuẩn nghiệm thu
Nhiều chủ đầu tư nghĩ trồng cỏ trên mái là hạng mục không đo đếm được nên cũng không nghiệm thu được. Không phải vậy. TCVN 9436:2012 điều 10.2.5 đặt ra bốn chỉ tiêu rất cụ thể:
- Diện tích cây, cỏ bị chết không được quá 10 %, và không có vùng cây cỏ bị chết thành mảng trên 1,0 m².
- Bề dày lớp cỏ trồng nên dưới 10 cm.
- Kiểm tra ở thời điểm sáu tháng sau khi trồng, nếu không đạt yêu cầu nói trên thì phải trồng bổ sung.
- Việc trồng cây, cỏ trong các khung bê tông hoặc các ô xây đá để gia cố mái ta luy cũng được kiểm tra theo các chỉ tiêu nói trên.
Chỉ tiêu bề dày ở dòng thứ hai gắn với cách trồng bằng vầng cỏ, tức là cách bóc từng mảng cỏ có sẵn đất rồi ghim lên mái. Điều 10.2.2 của cùng tiêu chuẩn quy định vầng đất phía dưới dày từ 5 cm đến 10 cm, nên con số 10 cm ở đây là bề dày của mảng cỏ đó chứ không phải chiều cao cây.
Chúng tôi vẫn khuyên chủ đầu tư đưa nguyên bốn dòng này vào hợp đồng với nhà thầu, kèm mốc nghiệm thu sáu tháng và điều khoản trồng dặm. Đây là chỗ dễ tuột nhất trong cả hạng mục, vì lúc bàn giao thì mặt mái nào cũng xanh, còn cây sống được hay không thì phải qua một mùa mưa mới biết.
Thêm hai chi tiết thi công mà điều 10.2.4 quy định, cả hai đều dễ làm và hay bị bỏ. Trồng phải đi từ dưới chân lên dần phía đỉnh, chứ không làm từ trên xuống, để người thi công không giẫm lên phần vừa trồng. Và với mái ta luy đào thì phải trồng quá đỉnh taluy tối thiểu 1,0 m, vì nước mặt tấn công mép đỉnh trước tiên, mất mép đỉnh là mất dần cả mái.
Vì sao cỏ Vetiver hay được chọn cho việc này
Bộ rễ cỏ Vetiver mọc thẳng đứng và ăn sâu, gần như không có rễ ngang, nên khi các khóm khép lại thành hàng kín thì hàng cỏ vừa neo đất vừa hãm dòng nước chảy trên mặt dốc. Loài cỏ này cũng chịu được đất nghèo, đất chua phèn và đất mặn, tức là đúng loại đất mà mặt mái taluy mới đào thường có (cẩm nang TVNI, tr.106).
Tuy nhiên biện pháp nào cũng có ngưỡng, và chúng tôi muốn nói rõ ngưỡng của mình. Kinh nghiệm tổng kết từ các dự án taluy đường tại Việt Nam cho thấy góc dốc taluy không nên vượt quá 45 đến 50° thì hàng cỏ mới phát huy tác dụng (cẩm nang TVNI, tr.79). Quá ngưỡng đó, một mình hàng cỏ không giữ nổi, bạn phải hạ dốc, giật cấp thêm hoặc kết hợp biện pháp cứng. Và với mái có nguy cơ trượt sâu thì phần tính toán ổn định vẫn phải do kỹ sư địa kỹ thuật làm, hàng cỏ đi sau như lớp bảo vệ bề mặt.
Nếu bạn chưa chắc mái taluy của mình thuộc trường hợp nào, hãy gửi cho OlaFarm vài tấm ảnh hiện trạng kèm chiều cao và độ dốc qua trang liên hệ, chúng tôi sẽ xem cùng bạn và nói thẳng nếu đó là trường hợp cần biện pháp công trình chứ không phải cỏ.
→ Gia cố mái taluy bằng cỏ Vetiver: điều kiện và quy trình
→ Giống cỏ Vetiver cho công trình chống sạt lở, xói mòn
→ Cỏ Vetiver là gì và làm được những gì
8. Câu hỏi thường gặp về taluy
Taluy là gì trong xây dựng, nói ngắn gọn nhất?
Taluy là mái dốc nhân tạo ở hai bên một nền công trình, sinh ra khi người ta đào bạt vào sườn đất hoặc đắp đất cao lên. Theo TCVN 9436:2012 điều 3.7, mái ta luy là ranh giới hai bên của nền đào, nền đắp, hoặc nền nửa đào nửa đắp. Chữ này mượn từ tiếng Pháp talus, nghĩa là sườn dốc.
Taluy âm và taluy dương, cái nào nguy hiểm hơn?
Không cái nào nguy hiểm hơn theo mặc định, vì rủi ro nằm ở chiều cao, loại đất và cách thoát nước chứ không nằm ở việc mái ở trên hay ở dưới đường. Điều khác nhau là hậu quả khi hỏng. Taluy dương hỏng thì đất đá đổ xuống mặt đường gây tắc và gây tai nạn. Taluy âm hỏng thì mất luôn một phần nền đường, và việc khôi phục tốn kém hơn nhiều.
Mái taluy nhà tôi cao 4 m, đất thịt pha cát, để dốc bao nhiêu là hợp lý?
Với đất loại dính hoặc kém dính ở trạng thái chặt vừa đến chặt và mái cao dưới 12 m, Bảng 24 của TCVN 4054:2005 cho mái đào là 1:1,0, tức khoảng 45°. Nếu là mái đắp thì Bảng 25 yêu cầu thoải hơn, 1:1,5 với đất sét và cát pha khi mái cao dưới 6 m. Đất pha cát nhiều thì bạn nên lấy về phía thoải. Đây là mức tham khảo từ bảng tra, còn quyết định cuối vẫn cần người khảo sát tận nơi.
Tôi có bắt buộc phải làm cơ taluy cho mọi mái taluy không?
Không. Bậc thềm chỉ bắt buộc khi mái đi qua nhiều tầng lớp đất đá khác nhau, hoặc khi mái cao. Với mái đào cùng một loại đất, tiêu chuẩn khuyến nghị làm bậc theo khoảng chiều cao 6 m đến 12 m. Với mái đắp đất tương đối cao thì cứ 8 m đến 10 m chiều cao làm một bậc rộng 1,0 m đến 3,0 m. Mái thấp vài mét thì không cần.
Trồng cỏ trên mái taluy thì bao lâu mới nghiệm thu được?
Mốc nghiệm thu theo TCVN 9436:2012 điều 10.2.5 là sáu tháng sau khi trồng. Tại mốc đó, diện tích cây cỏ chết không được quá 10 % và không có mảng chết nào trên 1,0 m². Không đạt thì nhà thầu phải trồng bổ sung. Bạn nên ghi thẳng mốc này cùng hai chỉ tiêu đó vào hợp đồng.
Tôi có thể trồng cỏ thay cho kè bê tông được không?
Tuỳ mái. Mái đất đã ổn định, độ dốc nằm trong ngưỡng bảng tra và không có dòng chảy tập trung thì trồng cỏ đơn thuần là đủ, và đây là cách phổ biến trên nhiều tuyến đường tại Việt Nam. Tuy nhiên với mái chịu sóng, chịu dòng chảy mạnh, hoặc mái không thể hạ dốc, bạn vẫn cần biện pháp cứng, và lúc đó cách làm hợp lý là kết hợp: kết cấu cứng giữ hình dạng mái, hàng cỏ giữ lớp đất mặt trong từng ô.
Nguồn tham khảo
- TCVN 4054:2005 — Đường ô tô — Yêu cầu thiết kế, Bộ Khoa học và Công nghệ. Độ dốc mái đường đào và yêu cầu khảo sát mái ổn định lân cận (điều 7.7.1, Bảng 24), kiểm toán ổn định mái cao trên 12 m với hệ số nhỏ nhất 1,25 (điều 7.7.2), bậc thềm mái đào (điều 7.7.3), biện pháp gia cố mái đào gồm trồng cỏ và trồng cây bụi (điều 7.7.5), độ dốc mái đường đắp (điều 7.8.1, Bảng 25), mái đắp qua vùng ngập nước (điều 7.8.3), bậc thềm mái đắp (điều 7.8.4), trần chiều cao mái đắp đất 16,0 m và đắp đá 20,0 m (điều 7.8.5).
- TCVN 9436:2012 — Nền đường ô tô — Thi công và nghiệm thu, Bộ Khoa học và Công nghệ. Định nghĩa nền đắp, nền đào, nền nửa đào nửa đắp và mái ta luy (điều 3.4 đến 3.7), hoàn thiện và đầm nén bề mặt mái đắp (điều 7.4.2 và 7.4.3), điều kiện được phép thi công gia cố (điều 10.1.1), chọn giống và chăm sóc cây cỏ (điều 10.2.1), trình tự trồng từ chân lên đỉnh và trồng quá đỉnh taluy đào tối thiểu 1,0 m (điều 10.2.4), chỉ tiêu kiểm tra chất lượng trồng cây cỏ (điều 10.2.5).
- Cẩm nang TVNI — Paul Trương, Trần Tân Văn, Elise Pinners, Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, The Vetiver Network International. Đặc tính bộ rễ và khả năng chịu đất xấu (tr.106), bài học từ dự án bảo vệ taluy đường Hồ Chí Minh ở các vị trí không giật cấp (tr.62), ngưỡng góc dốc taluy 45 đến 50° (tr.79).
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




