Trang chủ › Chống sạt lở & xói mòn › Chống sạt lở đường đèo: taluy đào, taluy đắp và hàng cỏ Vetiver

Chống sạt lở đường đèo: taluy đào, taluy đắp và hàng cỏ Vetiver

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 08/09/2026Đọc 15 phútChuyên mục Chống sạt lở & xói mòn

Tóm tắt

Chống sạt lở đường đèo là các biện pháp giữ taluy đào và taluy đắp của đường miền núi không trượt xuống mặt đường hoặc xuống vực khi mưa lớn. Trên hơn 1.000 km đường Hồ Chí Minh có gần 200 km đã, đang hoặc có nguy cơ trượt lở nghiêm trọng. Bài viết này trình bày vì sao taluy đường đèo dễ sạt, việc phải làm trước khi trồng, cách bố trí hàng cỏ Vetiver trên hai loại taluy, và vì sao chống sạt lở đường đèo bằng hàng cỏ chỉ đạt khi mái đã ổn định.

Mái taluy đào đất đỏ cao dốc chạy dọc một tuyến đường công vụ miền núi, các hàng cỏ Vetiver mới trồng theo đường đồng mức phủ đều mặt taluy, rừng núi phía sau, cách chống sạt lở đường đèo bằng hàng cỏ
Một taluy đào bên đường công vụ miền núi, các hàng cỏ trồng theo đường đồng mức vừa bén rễ. Mặt taluy còn trơ đất là giai đoạn dễ tổn thương nhất của tuyến đường mới mở.

Tuyến đường đèo của bạn vừa mở, taluy đào cao mười mấy mét, mùa mưa còn bốn tháng: trồng cỏ có kịp giữ được không? Taluy đắp phía vực thì lo gì trước, xói hay lún? Và vì sao nhiều đoạn đã xây tường chắn rồi vẫn sạt? Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn có câu trả lời bằng cách đi từ chỗ taluy đường đèo khác sườn đồi tự nhiên ở đâu, tới thứ tự việc phải làm trước khi trồng, rồi tới cách bố trí hàng cỏ Vetiver trên hai loại taluy của cùng một con đường.

Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn nhận ra đoạn nào của tuyến hàng cỏ giữ được, đoạn nào phải có biện pháp khác đi trước.

Nội dung bài

Vì sao taluy đường đèo dễ sạt lở hơn sườn đồi tự nhiên?

Taluy đường đèo dễ sạt hơn sườn đồi tự nhiên vì nó là mái do người đào và người đắp, còn sườn đồi là mái đã tự cân bằng qua nhiều nghìn năm. Mở một con đường qua đèo là cắt một vết vào sườn: phía trên vết cắt là taluy đào (taluy dương), phần đất đá bị lấy mất chân đỡ; phía dưới là taluy đắp (taluy âm), đất rời mới chất lên, lớp mặt chưa được đầm chặt. Hai mái đó mất ổn định theo hai cách khác nhau, và cả hai cùng hứng nước từ mặt đường.

Cách thứ nhất là trượt khối ở taluy đào. Sườn núi miền núi phía Bắc có vỏ phong hoá dày 15 đến 30 m, giàu khoáng sét trương nở mạnh khi gặp nước, nằm trên nền đá cứng ít thấm, theo phân tích của PGS.TS Trần Tuấn Anh (2024) ở Viện Địa chất. Cắt vào lớp đó và để lại vách dốc là tạo ra một khối đất có mặt trượt sẵn. Loạt sự cố trượt lở ngay tại các thị xã Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn được xác định là do đào xúc chân dốc lấy mặt bằng, để lại vách taluy dựng đứng ngay phía sau (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 43).

Cách thứ hai là xói và lún ở taluy đắp. Đất đắp rời, chưa lèn, nên rãnh xói phát triển sau vài trận mưa dù đã gieo cỏ, và nước từ mặt đường chảy qua lề xuống taluy âm khoét dần chân nền đường.

Mưa là cái đến sau cùng.

Nghiên cứu của TS Phạm Văn Tiền (2026) ở Viện Các Khoa học Trái đất trên hơn 20 vụ trượt lở lớn ở Việt Nam từ năm 2009 cho ngưỡng kích hoạt thường là cường độ 50 đến 70 mm mỗi giờ, hoặc mưa dài ngày tích luỹ hàng trăm đến hàng nghìn mm. Còn nguyên nhân nền của gần 200 km nguy cơ trượt lở trên đường Hồ Chí Minh được Truong và cộng sự (2008a, tr. 43) xác định là chưa hiểu đầy đủ đặc điểm địa chất bất lợi và trình độ thi công còn hạn chế.

Bài taluy là gì phân loại hai mái này chi tiết hơn, và bài nguyên nhân sạt lở đất đi sâu vào phần điều kiện nền.

Mặt cắt ngang một con đường đèo với taluy đào phía sườn núi có rãnh đỉnh, bậc giật cấp và các hàng cỏ Vetiver theo đường đồng mức, mặt đường có rãnh dọc, và taluy đắp phía vực có hàng cỏ Vetiver dọc mép lề và trên mái, minh hoạ cách chống sạt lở đường đèo
Mặt cắt đường đèo với taluy đào, taluy đắp và hàng cỏ Vetiver: nước được dẫn đi trước, hàng cỏ đứng ở mép trên, trên cơ và dọc lề.

Vì sao kè và tường chắn chưa đủ để chống sạt lở đường đèo?

Kè và tường chắn chưa đủ vì chúng xử lý phần nhìn thấy của mái, trong khi phần lớn hư hỏng của taluy đường đèo bắt đầu từ bề mặt và từ nước bên trong. Tường chắn bê tông hoặc đá xây là biện pháp ổn định mái dốc phổ biến dọc các tuyến đường, nhưng phần lớn chỉ là biện pháp thụ động, chờ trượt xảy ra; và khi trượt xảy ra thì tường đổ theo, như từng thấy ở khá nhiều nơi dọc đường Hồ Chí Minh (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 49). Kè đá cục bộ giảm được xói bề mặt tại chỗ kè, không có tác dụng khi trượt lớn với mặt trượt nằm sâu.

Có phải vì thế mà cỏ là câu trả lời cho mọi đoạn đèo không? Chưa phải. Hai bài học có nguồn nói ngược lại. Dự án cao tốc ở Philippines dùng cỏ Vetiver trên taluy mới đã thất bại, và lý do được xác định sau đó là kỹ sư thiết kế, vườn ươm cấp giống, cán bộ giám sát và công nhân đều chưa có kinh nghiệm và chưa được hướng dẫn kỹ thuật. Ngay trên đường Hồ Chí Minh, ở một số điểm taluy rất cao, dốc và không giật cấp, mái vẫn tiếp tục trượt dù đã trồng cỏ đại trà (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 42).

Cùng tuyến đó lại có ví dụ ở chiều ngược lại. Tại đèo Đá Đẽo (Quảng Bình), nơi lớp phủ thực vật bị phá và taluy đào trượt liên tục, các hàng cỏ trồng trên đỉnh mái trượt xuống rất chậm và làm giảm đáng kể khối lượng đất trượt (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 82). Nghĩa là hàng cỏ không cứu được mái sai điều kiện, nhưng trên mái đúng điều kiện nó làm giảm cả số lần trượt nông lẫn khối lượng khi trượt sâu xảy ra.

Người thiết kế đường ở nhiều nước đang đi theo hướng này. Kim và cộng sự (2022) tổng kết rằng cỏ Vetiver là một công cụ hạ tầng xanh chi phí thấp để giảm rủi ro xói, trượt lở và ngập cho đường bộ, và rào cản chính nằm ở tiêu chuẩn, hướng dẫn và đào tạo chứ không ở cây. Tổng quan của Phan Trần Thanh Trúc và cộng sự (2025) trên 555 công bố Scopus giai đoạn 2000 đến 2024 cũng ghi nhận cỏ Vetiver là giải pháp kỹ thuật sinh học đã chứng minh hiệu quả trên các tuyến đường ở Việt Nam.

Chống sạt lở đường đèo bằng hàng cỏ Vetiver theo thứ tự nào?

Thứ tự đúng là nước, hình học mái, rồi mới đến lớp phủ, và hàng cỏ chỉ đứng ở bước thứ ba. Đây là thứ tự OlaFarm dùng khi xem ảnh hiện trạng một tuyến đèo mà khách gửi, và cũng là thứ tự các hướng dẫn kỹ thuật thống nhất.

Bước một là nước. Taluy đào cần rãnh đỉnh hứng nước từ sườn núi phía trên, rãnh trên từng cơ nếu mái giật cấp, và rãnh dọc chân dẫn nước ra cống ngang. Taluy đắp cần lề đường và rãnh thoát để nước mặt đường không chảy tràn xuống mái. Thoát nước ngầm cho khối đào lớn là việc của thiết kế địa kỹ thuật.

Bước hai là hình học. Kinh nghiệm thiết kế ở Việt Nam là taluy đường không nên dốc hơn 1 theo phương ngang trên 1 theo phương đứng, thậm chí 1,5 trên 1 hoặc thoải hơn trên đất dễ xói và vùng mưa nhiều. Mái cao trên 10 m phải giật cấp mỗi 5 đến 8 m theo chiều đứng, cơ rộng 1 đến 3 m (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63–64). Mái chưa đạt hệ số an toàn yêu cầu thì hạ góc hoặc gia cường trước; bài hệ số an toàn mái dốc giải thích con số đó.

Bước ba mới là lớp phủ. Ở bước này cỏ Vetiver (tên khoa học Chrysopogon zizanioides) được chọn vì hai lý do đo được: rễ ăn thẳng xuống 2 đến 3 m ngay năm đầu ở đất tốt (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 52), có sức kháng kéo 64 đến 72 MPa (Islam, 2025, tr. 12); và hàng cỏ khép kín theo đường đồng mức giảm tới 70% nước chảy tràn bề mặt và tới 90% bùn đất rửa trôi theo số liệu tổng hợp của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI) (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 2). Cây mọc thành bụi, không kết hạt, không có thân bò, nên không lan ra khỏi hàng.

Chi phí của lớp phủ này đứng ở đâu so với các lớp phủ khác? Thí nghiệm sáu tháng của Parsakhoo và Hosseini (2023) trên taluy đào và taluy đắp của đường rừng ở Iran cho lượng đất mất từ mái trần 126,74 g/m², từ mái có hàng rào sống 28,78 g/m², và từ mái lót ô địa kỹ thuật thấp hơn nữa; nhưng hàng rào sống có chi phí thấp hơn cả năm phương án còn lại, bằng một phần năm chi phí ô địa kỹ thuật. Con số Iran chỉ để so tỷ lệ; lượng đất mất ở đường đèo Việt Nam mưa nhiều hơn sẽ khác.

Bố trí hàng cỏ Vetiver trên taluy đào và taluy đắp như thế nào?

Hai loại taluy cần hai cách bố trí, vì chúng hỏng theo hai cách khác nhau.

Trên taluy đào, hàng đầu tiên trồng đúng mép trên với mọi taluy cao hơn 1,5 m, vì mép trên là chỗ nước từ sườn núi bắt đầu chảy xuống mái (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63). Các hàng tiếp theo cách nhau 1,0 đến 2,0 m đo xuôi dốc, 1,0 m ở đất dễ xói và 1,5 đến 2,0 m ở đất ổn định, chạy theo đường đồng mức (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63; TVNI, n.d.).

Mái giật cấp thì trồng thêm hàng dọc mép ngoài mỗi cơ. Hàng dưới cùng sát chân, dọc rãnh thoát nước. Đất taluy đào thường cằn, nên hướng dẫn kỹ thuật khuyên trồng bằng bầu ươm, nhất là dự án lớn cần cỏ lên nhanh (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63 và 66).

Trên taluy đắp, việc đầu tiên là hàng cỏ dọc mép lề đường. Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế năm 2025 về ổn định mái dốc bằng cỏ Vetiver ghi rằng hàng cỏ trồng dọc mép nền đường giảm xói khoét ngược vào nền và giúp mặt đường khô hơn, hạn chế ổ gà (Islam, 2025, tr. 39). Dưới mép lề, các hàng trên mái đắp cách nhau như taluy đào, và hàng dưới cùng ở chân mái đắp.

Vị trí trên đường đèoViệc làm trướcHàng cỏ VetiverCăn cứ
Taluy đào cao dưới 10 m, đất phong hoáRãnh đỉnh, rãnh chân; góc dốc không quá 1:1Hàng mép trên, hàng cách 1,0–2,0 m theo đất, hàng chân(Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63; Islam, 2025, tr. 39)
Taluy đào cao trên 10 mGiật cấp mỗi 5–8 m, rãnh cơThêm hàng dọc mép mỗi cơ; trồng trên cơ nếu mái dốc hơn 45 độ(Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63)
Taluy đắp phía vựcLề đường, rãnh dọc, cống ngangHàng dọc mép lề; hàng trên mái; hàng chân(Islam, 2025, tr. 39)
Đoạn có mỏm đá lộ hoặc bóng râm dưới cầuXử lý riêngBỏ trống đoạn đó, nối lại hàng ở hai bên(Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63)
Đoạn nghi mặt trượt sâuNeo, tường chắn, thoát nước ngầm theo thiết kếHàng cỏ đi sau để giữ bề mặt(Nghia và cộng sự, 2019; Badhon và cộng sự, 2021; Chávez-Torres và cộng sự, 2026)

Số đo tại Việt Nam cho thấy cách bố trí này lên được trên taluy đường thật. Trên taluy đường tỉnh lộ lên Hòn Bà (Khánh Hoà), quan trắc của TS. Phạm Hồng Đức Phước cho tỷ lệ sống 65 đến 100%, mỗi khóm 18 đến 30 nhánh và cao 95 đến 160 cm sau 6 tháng; rễ ăn sâu 1,2 đến 1,9 m sau 24 tháng, và đó là số trên taluy đầm chặt, khắc nghiệt hơn đất vườn nhiều (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 78–79).

Theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, ở thời tiết thuận lợi hàng cỏ khép kín sau 4 đến 6 tháng, nên với mùa mưa bắt đầu vào tháng 9 thì hàng phải xuống giống trong khoảng tháng 3 đến tháng 5.

Nhân công đứng trên thang nhôm trồng cỏ Vetiver thành từng hàng ngang kín một mái taluy đất đỏ cao bên đường, cách bố trí hàng khi chống sạt lở đường đèo
Các hàng cỏ được trồng kín mái theo đường đồng mức từ đỉnh xuống chân. Trên mái cao và mới đắp, người trồng cần dây bảo vệ vì mái có thể sạt ngay trong lúc trồng.

Có ba điều về thi công mà người đặt giống cho đường đèo nên biết trước. Mái cao, mới đắp có thể sạt trượt ngay trong lúc trồng, nên cần hệ dây bảo vệ an toàn cho công nhân; quy chuẩn an toàn thi công xây dựng tính vị trí đứng cao từ 2,0 m so với mặt đất là làm việc trên cao (QCVN 18:2021/BXD, mục 2.7.1).

Tưới trên taluy khó hơn tưới vườn bằng, và trên taluy đào đường Hồ Chí Minh đã phải tưới cơ giới hằng ngày trong mấy tháng đầu (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 43); vì thế mái cao và khó thì OlaFarm khuyên trồng cụm 3 đến 5 tép để tăng tỷ lệ sống, do giá giống rẻ hơn nhiều so với chi phí trồng và chăm sóc. Và dự toán phải có khoản trồng giặm, vì chỗ trôi, chỗ chết phải dặm cho tới khi hàng kín. Phần trồng, tưới và chăm sóc từng bước nằm ở bài quy trình thi công trồng cỏ Vetiver chống sạt lở.

Hai mặt cắt cùng một taluy đào đường đèo, bên trái mái trần sau mùa mưa đầu có rãnh xói và khối đất trượt xuống mặt đường, bên phải cùng mái đó sau hai mùa mưa với các hàng cỏ Vetiver khép kín, bậc đất bồi phía trên mỗi hàng và mặt đường sạch
Taluy đường đèo trước và sau hai mùa mưa có hàng cỏ Vetiver: xói bề mặt dừng lại ở từng hàng thay vì chạy thẳng xuống mặt đường.

Còn giới hạn thì không đổi so với mọi mái khác: hàng cỏ chỉ giữ được trong tầng rễ. Mô hình số của Badhon và cộng sự (2021) cho hệ số an toàn mái đất cát tăng đến 20,6% nhờ rễ, nhưng mái đất sét tăng không đáng kể vì trượt sâu; nghiên cứu ở Ecuador của Chávez-Torres và cộng sự (2026) đo lớp đất có rễ dày khoảng 2 m là phần quyết định.

Đoạn đèo nào nghi mặt trượt sâu thì neo, tường chắn hoặc thoát nước ngầm phải đi trước, và một công trình ở Việt Nam của Nghia và cộng sự (2019) đã kết hợp neo đất với cỏ Vetiver theo đúng cách đó.

Tóm lại, chống sạt lở đường đèo bắt đầu từ chỗ hiểu taluy đào và taluy đắp hỏng theo hai cách khác nhau, rồi làm theo thứ tự nước, hình học mái, lớp phủ. Hàng cỏ Vetiver đứng ở bước thứ ba: hàng mép trên, hàng theo đồng mức cách 1 đến 2 m, hàng dọc lề và hàng chân, xuống giống trước mùa mưa 4 đến 6 tháng, trên mái đã ổn định bên trong. Đoạn nào mặt trượt sâu thì công trình đi trước, hàng cỏ đi sau.

Nếu bạn đang phụ trách một tuyến đường đèo hoặc đường miền núi và muốn biết đoạn taluy nào nên chống sạt lở đường đèo bằng hàng cỏ, đoạn nào cần biện pháp khác đi trước, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem ảnh hiện trạng, chiều cao và độ dốc từng đoạn cùng lịch mùa mưa của khu vực để đề xuất cách bố trí hàng, số lượng giống và thời điểm xuống giống. Bạn có thể gửi thông tin cho chúng tôi qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Chống sạt lở đường đèo bằng cỏ Vetiver có được áp dụng ở Việt Nam chưa?

Đã áp dụng ở quy mô lớn. Cỏ Vetiver được trồng đại trà để bảo vệ hàng trăm km taluy đường Hồ Chí Minh từ năm 2002, từ Thanh Hoá đến Kon Tum, ở nhiều đoạn độc lập và ở nhiều đoạn kết hợp biện pháp truyền thống (Phan Trần Thanh Trúc và cộng sự, 2024; Truong và cộng sự, 2008a, tr. 43). Kết quả có cả thành công lẫn thất bại, và thất bại tập trung ở taluy rất cao, dốc, không giật cấp.

Taluy đào của tôi cao 15 m, trồng cỏ thôi có đủ không?

Chưa đủ nếu mái chưa giật cấp. Mái cao trên 10 m cần giật cấp mỗi 5 đến 8 m theo chiều đứng, cơ rộng 1 đến 3 m, có rãnh trên cơ, và góc dốc mỗi bậc không quá 45 đến 50 độ (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 63). Sau đó hàng cỏ trồng ở mép trên, trên từng cơ và trên mái mỗi bậc. Mái 15 m không giật cấp là đúng loại mái vẫn trượt trên đường Hồ Chí Minh dù đã trồng cỏ.

Đường đèo của tôi vào mùa mưa sau bốn tháng nữa, trồng bây giờ có kịp không?

Kịp một phần. Ở thời tiết thuận lợi, theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, hàng cỏ khép kín sau 4 đến 6 tháng; hướng dẫn kỹ thuật khuyên dự phòng 2 đến 3 tháng ở vùng ấm và 3 đến 4 tháng ở vùng lạnh (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 61). Trồng ngay bằng bầu ươm, tưới đủ và phủ lưới xơ dừa tạm cho những đoạn dễ xói thì tép có thời gian bám rễ trước trận mưa lớn đầu tiên; đoạn nào không kịp thì phải có biện pháp che phủ khác.

Cỏ Vetiver có mọc được trên taluy đá phong hoá và đá dăm không?

Mọc được nhưng chậm hơn, và đó là loại đất khó mà OlaFarm gặp nhiều cùng với sét nặng và cát. Cách làm là trồng vào mùa mưa ẩm, trời mát, bón phân hữu cơ và dùng bầu ươm hoặc cụm 3 đến 5 tép cho tỷ lệ sống cao hơn. Đoạn có mỏm đá gốc lộ hẳn thì để trống, nối lại hàng ở hai bên.

Hàng cỏ trên taluy đắp phía vực có giữ được nền đường không?

Giữ được phần xói. Hàng cỏ dọc mép lề chặn nước mặt đường khoét ngược vào nền và giúp mặt đường khô hơn (Islam, 2025, tr. 39); các hàng trên mái đắp giữ đất mặt và tầng rễ. Phần lún của khối đắp do đầm nén không đủ thì hàng cỏ không sửa được, và mặt trượt sâu qua thân nền đắp vẫn là việc của thiết kế địa kỹ thuật.

Tài liệu tham khảo

  • Badhon, F. F., Islam, M. S. và Islam, M. A. (2021). Contribution of vetiver root on the improvement of slope stability. Indian Geotechnical Journal, 51(4), 829–840. https://doi.org/10.1007/s40098-021-00557-0
  • Bộ Xây dựng (2021). QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng.
  • Chávez-Torres, J. L., Zhang, K., Rodríguez-Tapia, J. P. và Flores-Granda, A. N. (2026). Sustainable assessment of vetiver-based nature-based solutions for landslide hazard mitigation under groundwater, surcharge, and pseudo-static seismic conditions. Sustainability, 18(14), 7054. https://doi.org/10.3390/su18147054
  • Islam, M. S. (2025). Standard Specification for Slope Stabilization Using Vetiver Grass. The Vetiver Network International. Giấy phép CC BY-NC-SA 4.0.
  • Kim, K., Riley, S., Fischer, E. R. và Khan, M. S. (2022). Greening roadway infrastructure with vetiver grass to support transportation resilience. CivilEng, 3(1). https://doi.org/10.3390/civileng3010010
  • Nghia, N. T., Lam, L. G. và Hino, T. (2019). Combining soil nail and vetiver grass in a slope protection project in Vietnam. Lowland Technology International. http://cot.unhas.ac.id/journals/index.php/ialt_lti/article/view/657
  • Parsakhoo, A. và Hosseini, S. A. (2023). Effect of bioengineering treatments on reduction of soil erosion from road cut slope and fill slope. Journal of Forest Science. https://doi.org/10.17221/55/2023-JFS
  • Phạm Văn Tiền (2026). Phân loại trượt lở trên hơn 20 vụ lớn từ 2009 và ngưỡng mưa kích hoạt [công bố báo chí]. Viện Các Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Phan Trần Thanh Trúc và cộng sự (2024). Tổng quan về nghiên cứu ứng dụng cỏ vetiver trong giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ hạ tầng giao thông ở Việt Nam. Hội Cơ học đất và Địa kỹ thuật công trình Việt Nam.
  • Phan Trần Thanh Trúc, Nguyễn Tân, Phạm Thắng, Lương Bích và Nguyễn Hương (2025). The application of vetiver grass in natural disaster mitigation and environmental protection in Vietnam: A bibliometric analysis and literature review. Inżynieria Mineralna, 1(55), 602–612. https://doi.org/10.29227/IM-2025-01-02-048
  • The Vetiver Network International (n.d.). How to Plant. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/how-to-plant/
  • Trần Tuấn Anh (2024). Vỏ phong hoá vùng núi phía Bắc dày 15–30 m, giàu montmorillonite [trả lời báo chí]. Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008b). Vetiver System for Slope Stabilization. The Vetiver Network International.

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *