Trang chủ › Chống sạt lở & xói mòn › Bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ Vetiver: rãnh nào phù hợp, trồng ở bờ hay ở lòng
Bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ Vetiver: rãnh nào phù hợp, trồng ở bờ hay ở lòng
Tóm tắt
Bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ là dùng hàng cỏ Vetiver làm lớp lót sống cho bờ và đáy rãnh đất, để nước vẫn thoát mà đất không đi theo nước. Tiêu chuẩn đường ô tô chỉ bắt gia cố rãnh biên và rãnh đỉnh khi độ dốc lớn hơn độ dốc gây xói, và đó là khoảng rãnh mà hàng cỏ làm việc được. Bài viết này trình bày rãnh nào phù hợp, cỏ trồng ở bờ hay ở lòng rãnh, hàng cỏ chịu được dòng sâu bao nhiêu, và lý do vì sao phải tính cả phần bùn mà hàng cỏ giữ lại.

Rãnh biên bên đường đất cứ sau một mùa mưa lại sâu thêm và đáy ăn hàm ếch vào lề: có cách nào giữ mà không phải xây đá? Trồng cỏ thì trồng ở hai bờ hay trồng luôn dưới lòng rãnh, và rãnh có bị bít không? Dòng trong rãnh chảy mạnh cỡ nào thì cỏ chịu được? Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn có câu trả lời bằng cách đi từ các loại rãnh trên một công trình theo tiêu chuẩn Việt Nam, tới hai cách đặt hàng cỏ Vetiver ở rãnh, rồi tới các số đo thuỷ lực đã có về hàng cỏ trong dòng sâu.
Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn thấy trước cái giá của hàng cỏ trong rãnh: nó giữ bùn, và bùn thì làm rãnh đầy lên.
Nội dung bài
Rãnh thoát nước nào trên công trình phù hợp để bảo vệ bằng cỏ?
Rãnh phù hợp để bảo vệ bằng cỏ là rãnh đất có độ dốc chưa tới mức tiêu chuẩn bắt phải xây, và ba loại rãnh trên một tuyến đường đều có thể rơi vào khoảng đó. Tiêu chuẩn đường ô tô định nghĩa rãnh biên (rãnh dọc) để thoát nước từ mặt đường, lề và taluy đào; rãnh đỉnh để đón nước sườn núi khi lưu vực lớn hoặc taluy đào cao từ 12 m; và rãnh dẫn nước để đưa nước từ chỗ trũng hay từ rãnh dọc, rãnh đỉnh về cầu cống (TCVN 4054:2005, điều 9.3.1, 9.4.1 và 9.5.1).
Rãnh biên phổ biến có tiết diện hình thang, đáy 0,40 m, sâu tối thiểu 0,30 m, độ dốc lòng rãnh không nhỏ hơn 0,5% để không lắng bùn (TCVN 4054:2005, điều 9.3.2 và 9.3.3).
Chỗ quyết định nằm ở một câu của điều 9.3.9: ở những đoạn rãnh dốc hơn độ dốc gây xói đất lòng rãnh, phải căn cứ tốc độ nước để gia cố bằng lát đá, xây đá hay bê tông (TCVN 4054:2005, điều 9.3.9). Rãnh đỉnh cũng vậy: độ dốc thường chọn để nước không xói lòng rãnh, và nơi buộc phải dốc lớn thì lát đá hộc, tấm bê tông hoặc làm dốc nước, bậc nước (TCVN 4054:2005, điều 9.4.4). Nghĩa là tiêu chuẩn chia rãnh thành hai nhóm theo tốc độ nước: nhóm phải xây và nhóm chỉ cần lòng rãnh đứng được. Cỏ làm việc ở nhóm thứ hai và ở phần bờ của nhóm thứ nhất.
Tiêu chuẩn phục hồi rãnh xói của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI) đặt phạm vi cho hàng cỏ tới rãnh xói sâu khoảng 6 m và rộng 30 m; rãnh lớn hơn cần thiết kế công trình riêng (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 3). Rãnh biên và rãnh đỉnh của đường nằm rất xa dưới giới hạn ấy. Với kênh mương thuỷ lợi bằng đất, cẩm nang kỹ thuật bản Việt ghi hai việc của hàng cỏ: trồng theo đường đồng mức phía trên kênh để giữ bùn đất không trôi xuống kênh, và trồng phía trên các rãnh xói để chúng không phát triển tiếp (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 59).
Rãnh nào mới đáng trồng? Rãnh nội đồng nhỏ trong ruộng, nước chảy chậm và cạn, gần như không sạt và không cần cỏ. Rãnh cần hàng cỏ là rãnh thoát nước lớn và sâu giữa các khu ruộng hoặc dọc chân đồi, nơi nước mùa mưa dồn từ nhiều thửa, chảy xiết đủ để khoét vách và mỗi năm lại rộng thêm một chút.
| Loại rãnh | Tiêu chuẩn nói gì | Hàng cỏ Vetiver đặt ở đâu |
|---|---|---|
| Rãnh biên đất, dốc dưới mức gây xói | tiết diện định hình, đáy 0,4 m, sâu từ 0,3 m, dốc từ 0,5% (TCVN 4054:2005, điều 9.3.2–9.3.3) | hai bờ rãnh, hàng sát mép trên; lòng rãnh giữ cỏ thấp |
| Rãnh biên, rãnh đỉnh dốc hơn mức gây xói | phải gia cố lát đá, xây đá, bê tông (TCVN 4054:2005, điều 9.3.9 và 9.4.4) | chỉ ở bờ và phía trên mép rãnh, không thay lớp lát |
| Rãnh đỉnh cách mép taluy từ 5 m, có con trạch | (TCVN 4054:2005, điều 9.4.6; TCVN 9436:2012, điều 8.4.3) | hàng đầu tiên đúng mép trên taluy (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 65); lòng rãnh dốc lớn thì lát đá |
| Kênh mương đất, rãnh xói trên sườn | hàng đồng mức phía trên kênh và phía trên rãnh xói (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 59) | mép trên, hai vách rãnh trên cơ nhỏ, và hàng cắt ngang đáy (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 5) |

Bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ: trồng ở bờ hay ở lòng rãnh?
Có hai cách đặt hàng cỏ ở rãnh, và chúng làm hai việc khác nhau. Cách thứ nhất là hàng cỏ chạy dọc theo bờ, song song dòng nước, ngay mép trên và trên vách rãnh: hàng này giữ vách rãnh không sạt, giữ bùn từ mặt đường và taluy không trôi xuống lòng rãnh, và không đụng gì tới tiết diện thoát nước. Cách thứ hai là hàng cỏ cắt ngang lòng rãnh, vuông góc dòng chảy: hàng này là một cái đập thấm nhỏ, làm dòng chậm lại, giữ bùn phía trên hàng, và vì thế làm giảm tiết diện rãnh.
Cẩm nang bản Việt viết nguyên tắc chung cho bờ nước: hàng dọc theo dòng chảy cách nhau 0,8 đến 1,0 m đo xuôi dốc để ổn định bờ, còn hàng vuông góc dòng chảy cách nhau 2,0 m ở đất dễ xói tới 4,0 m ở đất ổn định để giảm tốc độ dòng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 65).
Tiêu chuẩn rãnh xói của TVNI cụ thể hơn cho lòng rãnh: hàng cắt ngang đáy cách nhau 5 đến 15 m tuỳ độ dốc và năng lượng dòng, hàng trên vách rãnh đặt trên cơ nhỏ rộng 0,3 đến 0,5 m cách nhau 1,0 đến 1,5 m chênh cao, và hàng đồng mức trên vai rãnh cách mép 5 đến 20 m để giảm năng lượng nước đổ vào (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 5). Cây trong hàng cách nhau 10 đến 15 cm, xuống 5 đến 10 cm ở nơi dòng mạnh.

Vậy hàng cắt ngang lòng rãnh có làm tắc rãnh không? Có, theo nghĩa đen, và đây là điều phải tính trước, không đợi phát hiện sau. Thí nghiệm máng của Metcalfe và cộng sự (2003) cho thấy hàng cỏ dày tạo vùng nước đứng giữa các hàng ở phần thấp và giữa của bụi, làm giảm tiết diện chảy hữu hiệu, và theo thời gian bùn lắng làm giảm khả năng tải của kênh trong khi cỏ tiếp tục mọc cao lên trên lớp bùn (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 9).
Bùn là cái giá phải tính trước.
Tiêu chuẩn bờ nước của TVNI biến điều đó thành luật: ở rãnh mà lưu lượng thiết kế hay chiều cao an toàn quyết định, hàng cỏ phải cắt 2 đến 3 tháng một lần trong năm đầu, và cây bụi thân gỗ bị cấm trên mặt vách, trên đỉnh và trong dải lối bảo trì (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 20). Rãnh nào cơ quan quản lý nạo vét bằng máy thì hàng cỏ khép tán trên rãnh cản máy y như cản cỏ dại (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 21).
Ở rãnh biên và rãnh nội đồng có nhiều chiều cao dự trữ, tiêu chuẩn lại cho phép cắt thưa hơn: hàng cỏ không cắt sẽ khép tán trên rãnh hẹp, che bóng và đã được ghi nhận làm giảm rõ cỏ dại mọc trong lòng rãnh (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 20). Mỗi lần cắt là một lần hàng cỏ yếu đi về cơ học cho tới khi thân mới trưởng thành, nên cắt cái mà lưu lượng không đòi là mất sức mà không được gì.
Theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, bờ kênh, rãnh thoát nước và bờ sông hồ là một trong năm nhóm công trình đã được cấp giống chống sạt lở, và đơn cho vài chục mét bờ mương thường chỉ từ 500 đến 1.000 tép. Trong hàng, OlaFarm trồng cây cách cây 12 cm, và với bờ rãnh khó tưới thì trồng cụm 3 đến 5 tép mỗi hốc để hàng kín nhanh hơn.
Hàng cỏ Vetiver chịu được dòng nước sâu và nhanh đến đâu trong rãnh?
Hàng cỏ Vetiver chịu được dòng sâu tới khoảng 0,6 m mà không ngập trọn, và đó là giới hạn đã được đo, còn các con số cao hơn chỉ là quan sát. Thí nghiệm máng bê tông rộng 2 m, dài 20 m ở Đại học Nam Queensland cho nước chảy qua các hàng cỏ trồng cách 1 m và 2 m và qua kiểu ô cờ 0,5 m; độ sâu đạt tới 0,61 m, vận tốc tới 0,55 m/s, và ở mọi lượt thử hàng cỏ trưởng thành đều cao hơn mặt nước, không hàng nào bị ngập trọn (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 2–3).

Kết quả xếp hàng cỏ cách 1 m vào lớp cản A, lớp cao nhất trong thang lớp cản của ngành bảo tồn đất Hoa Kỳ, hệ số nhám Manning tiến về 0,6 đến 0,7; hàng cách 2 m vẫn lớp A với hệ số khoảng 0,5; kiểu ô cờ vào lớp B với hệ số khoảng 0,25 (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 8).
Con số đó nghĩa là gì với một cái rãnh? Nghĩa là hàng cỏ kín là một trong những lớp lót sống cản dòng mạnh nhất mà tài liệu về kênh cỏ từng đo, và vì thế nó hợp với rãnh dốc, dòng mạnh, nơi bùn lắng ít hoặc chấp nhận được; còn kiểu ô cờ thưa hợp với dòng chậm, rãnh thoải, nơi cần giữ tiết diện và để nước rửa bùn qua đáy (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 10).
Chính các tác giả kết luận hệ số Manning không mô tả đủ sức cản của hàng cỏ, nên tiêu chuẩn TVNI chỉ cho dùng các hệ số trên để sàng lọc chiều cao an toàn, và khi tính tải phải coi hàng cỏ là một vật cản rời, không phải lớp nhám rải đều (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 37).

Còn những con số 3 đến 5 m/s hay được nhắc thì sao? Cẩm nang bản Việt ghi hàng cỏ đứng vững trong dòng xiết sâu 0,6 đến 0,8 m (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 58), và một trận lũ đô thị ở Úc từng làm rạp và ngập toàn bộ hàng cỏ non với vận tốc ước tại chỗ tới 5 m/s, rồi bảy tuần sau hàng đứng dậy nguyên vẹn (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 40).
Tiêu chuẩn bờ nước bản 2026 của TVNI nói rõ rằng đó là ước lượng bằng mắt tại một địa điểm, không có phép đo nào của hàng cỏ ở vận tốc gần 3 m/s, và vì vậy đã rút mọi ngưỡng vận tốc cũ khỏi tiêu chuẩn (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 36–37).
Hàng cỏ chịu được một trận lũ vượt xa dải đã đo là bằng chứng về sức phục hồi, không phải giá trị đưa vào bản tính.
Vì thế cách dùng đúng cho rãnh là: rãnh có dòng thiết kế nằm trong khoảng đã đo, sâu dưới 0,6 m, thì hàng cỏ là lớp lót chính; rãnh dốc hơn mức gây xói theo tiêu chuẩn đường thì lát đá lòng rãnh và hàng cỏ giữ bờ, đúng như cách kết hợp chân kè đá phía dưới và cỏ phía trên mà cẩm nang khuyên cho đê kè (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 65). Hàng đầu tiên ngay dưới mọi cửa vào, cống hay chỗ đổ dốc là hàng dễ hỏng nhất, nên cần chân được bảo vệ bằng đá xếp (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 21 và 38).
Trồng, cắt và nạo vét rãnh có hàng cỏ Vetiver thế nào cho đúng?
Việc quan trọng nhất khi trồng là hàng dọc bờ phải thật ngang theo đường đồng mức và hàng cắt ngang phải thật ngang theo đáy rãnh. Ở một mỏ bentonit tại Queensland, các hàng cỏ đo thuỷ chuẩn không đạt độ ngang tuyệt đối đã dồn nước về đầu thấp và xói ngay tại đó, phải trồng thêm một hàng cong ở cuối để sửa; trong khi những hàng ngắn trồng cắt ngang rãnh thoát nước cao 1,8 m sau sáu tháng và chặn được xói đáy rãnh (Bevan và Truong, 2000, tr. 295).
Cỏ Vetiver (tên khoa học Chrysopogon zizanioides) làm được việc này vì thân cứng mọc thành bụi kín và rễ chùm đâm thẳng xuống, không lan ra lòng rãnh.
Thời điểm trồng tính theo nước, không theo tiến độ hợp đồng. Tiêu chuẩn bờ nước cấm trồng khi mực nước đang lên hoặc dự báo lên tới cách cổ rễ hàng thấp nhất dưới 200 mm trong vòng 30 ngày, và đòi hàng cỏ đủ 90 ngày tuổi trước lần ngập đầu tiên (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 12). Với rãnh biên đường, việc đó nghĩa là trồng ngay sau khi đào rãnh và trước mùa mưa 3 đến 4 tháng.
Hàng mới trồng thì cắt ngọn còn 15 đến 20 cm và trồng trong 48 giờ sau khi đào khỏi vườn (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 8); theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, giống được khai thác và gửi trong 24 đến 48 giờ sau khi chốt đơn, và tép chưa trồng ngay thì giâm trong nước hoặc cát ẩm được tới một tháng.
Cần bao nhiêu giống cho một cái rãnh? Lấy một ví dụ giả định, con số đặt ra cho tròn: rãnh biên đất dài 200 m, trồng một hàng sát mép trên mỗi bờ với cây cách cây 12 cm, cần khoảng 200 nhân 2 chia 0,12, tức khoảng 3.300 tép cho hai bờ. Nếu thêm năm hàng cắt ngang, mỗi hàng dài 1,5 m ở đáy với cây cách 10 cm, thì cộng thêm khoảng 75 tép; phần dặm dự phòng tính thêm theo bài dự toán trồng cỏ Vetiver.
Bảo trì có ba việc đếm được. Thứ nhất, dặm mọi khoảng hở trên 30 cm và trồng lại đoạn nào chết quá 20% trong 18 tháng đầu, vì hàng hở là chỗ nước dồn (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 7). Thứ hai, cắt theo lưu lượng: rãnh mà tiết diện quyết định thì cắt 2 đến 3 tháng một lần năm đầu, rãnh có dư chiều cao thì cắt thưa hơn (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 20). Thứ ba, để yên bùn lắng phía trên hàng cắt ngang trừ khi nó đổi hướng dòng chảy nguy hiểm, và sửa ngay chỗ xói quanh các công trình nhỏ trong rãnh (TVNI, DS-GULLY-STABILIZATION v1, 2026, tr. 7).

Nếu bạn đang có rãnh biên, rãnh đỉnh hoặc kênh đất bị xói sau mỗi mùa mưa và muốn biết đoạn nào giữ được bằng hàng cỏ, đoạn nào phải lát đá, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem ảnh hiện trạng, chiều dài, độ dốc lòng rãnh và mùa mưa của khu vực để đề xuất cách đặt hàng, số lượng giống và thời điểm xuống giống. Bạn có thể gửi thông tin cho chúng tôi qua trang liên hệ.
Tóm lại, bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ là việc của rãnh đất có dòng thiết kế nằm trong khoảng đã đo, sâu dưới 0,6 m: hàng cỏ Vetiver dọc bờ giữ vách và giữ bùn khỏi lòng rãnh, hàng cắt ngang đáy làm chậm dòng nhưng giữ bùn và thu hẹp rãnh. Rãnh dốc hơn mức gây xói theo tiêu chuẩn đường thì lát đá lòng, cỏ giữ bờ. Hàng phải thật ngang, đủ 90 ngày trước lần ngập đầu, và cắt theo lưu lượng, không theo thói quen.
Câu hỏi thường gặp
Rãnh biên bên đường của tôi có bảo vệ rãnh thoát nước bằng cỏ được không, hay phải xây?
Được nếu độ dốc lòng rãnh chưa tới mức gây xói đất; tiêu chuẩn đường ô tô chỉ bắt lát đá, xây đá hoặc bê tông ở những đoạn dốc hơn mức đó (TCVN 4054:2005, điều 9.3.9). Ở đoạn phải xây, hàng cỏ vẫn có việc ở hai bờ và phía trên mép rãnh để giữ vách và giữ bùn khỏi trôi xuống lòng rãnh đã lát.
Trồng cỏ Vetiver dưới lòng rãnh có làm tắc rãnh không?
Có, theo nghĩa hàng cắt ngang lòng rãnh giữ bùn và giảm tiết diện chảy, đúng như thí nghiệm máng ghi nhận (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 9). Rãnh mà lưu lượng thiết kế quyết định thì chỉ trồng hàng dọc bờ và cắt hàng 2 đến 3 tháng một lần năm đầu (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 20). Hàng cắt ngang dùng cho rãnh xói cần bồi lại và cho kênh có dư chiều cao.
Nước trong rãnh chảy mạnh cỡ nào thì hàng cỏ vẫn chịu được?
Số đã đo là dòng sâu tới 0,61 m và vận tốc tới 0,55 m/s trong máng, hàng cỏ trưởng thành không bị ngập trọn (Metcalfe và cộng sự, 2003, tr. 3). Các con số 3 đến 5 m/s là quan sát hiện trường một lần, tiêu chuẩn TVNI bản 2026 đã rút chúng khỏi giá trị thiết kế (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 36–37). Rãnh có dòng vượt dải đã đo thì lát đá lòng rãnh.
Hàng cỏ ở rãnh bao lâu phải cắt một lần?
Tuỳ rãnh. Rãnh mà tiết diện và chiều cao an toàn quyết định thì cắt 2 đến 3 tháng một lần trong năm đầu, sau đó theo nhu cầu giữ chiều cao an toàn; rãnh nhỏ có dư chiều cao thì cắt thưa hơn vì hàng khép tán còn che được cỏ dại trong lòng rãnh (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 20). Mỗi lần cắt là hàng cỏ yếu đi một thời gian, nên không cắt khi lưu lượng không đòi.
Rãnh đỉnh trên taluy đào cao trồng cỏ ở đâu?
Ở đúng mép trên taluy. Tiêu chuẩn đặt rãnh đỉnh cách mép taluy đào ít nhất 5 m và đắp đất đào thành con trạch về phía thấp, chân con trạch cách mép taluy ít nhất 1 m (TCVN 4054:2005, điều 9.4.6); tiêu chuẩn thi công còn đòi mép taluy con trạch cách đỉnh taluy đào tối thiểu 5 m (TCVN 9436:2012, điều 8.4.3). Hàng cỏ đầu tiên của mái trồng đúng mép trên taluy (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 65), chặn đất trên dải trống trôi xuống mặt mái. Lòng rãnh đỉnh dốc lớn thì lát đá theo tiêu chuẩn, không trồng cỏ thay.
Tài liệu tham khảo
- Bevan, O. và Truong, P. (2000). Effectiveness of vetiver grass in erosion and sediment control at a bentonite mine in Queensland, Australia. Trong Proceedings of the Second International Conference on Vetiver: Vetiver and the Environment (tr. 292–295), Phetchaburi, Thái Lan. https://vetiver.org/TVN_IVC2/CP-2-2.PDF
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2005). TCVN 4054:2005 Đường ô tô — Yêu cầu thiết kế.
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2012). TCVN 9436:2012 Nền đường ô tô — Thi công và nghiệm thu.
- Metcalfe, O., Truong, P. và Smith, R. (2003). Hydraulic characteristics of vetiver hedges in deep flows. Trong Proceedings of the Third International Conference on Vetiver, Quảng Châu, Trung Quốc. https://www.vetiver.org/ICV3-Proceedings/AUS_hydraulic.pdf
- The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Gully Rehabilitation (DS-GULLY-STABILIZATION), v1, ngày 15/01/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
- The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Water margins and watercourse banks (DS-WATER-MARGINS), v2, ngày 30/08/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
- Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




