Trang chủ › Chống sạt lở & xói mòn › Chống cát bay ven biển bằng cỏ Vetiver: bố trí hàng và giới hạn

Chống cát bay ven biển bằng cỏ Vetiver: bố trí hàng và giới hạn

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 08/09/2026Đọc 16 phútChuyên mục Chống sạt lở & xói mòn

Tóm tắt

Chống cát bay là việc giữ cho cát trên đụn cát ven biển không bị gió cuốn đi và không chảy theo nước mưa xuống đồng ruộng, làng mạc phía trong. Dải đụn cát ven biển miền Trung rộng hơn 70.000 ha; trên đụn cát Lệ Thuỷ (Quảng Bình), hàng cỏ Vetiver khép kín sau bốn tháng đã giữ ổn định chân đụn. Bài viết này trình bày hai cách cát di chuyển, vì sao phi lao và đê cát chưa đủ, cách bố trí hàng cỏ Vetiver để chống cát bay và cát chảy, và giới hạn.

Ruộng cỏ Vetiver trồng thành hàng thẳng trên đất cát ven làng, các khóm non đang bén rễ, loại cây dùng để chống cát bay ven biển
Các khóm cỏ Vetiver non trồng thành hàng trên nền đất cát. Cây sống được trên cát nghèo và khô là điều kiện đầu tiên để đứng được trên đụn cát.

Cát năm nào cũng lấn thêm vài mét vào ruộng, đã trồng phi lao rồi mà không đỡ, thì còn cách nào? Cỏ trồng trên cát khô nóng, gió mạnh có sống nổi không, và bao lâu thì giữ được cát? Hàng cỏ chắn gió hay chắn nước, đặt ở chân đụn hay trên đỉnh? Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn có câu trả lời bằng cách đi từ hai cách cát di chuyển, tới lý do các cách quen thuộc chưa đủ, rồi tới cách bố trí hàng cỏ Vetiver đã được thử trên đụn cát Quảng Bình.

Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn nhìn ra chỗ nào cỏ Vetiver chỉ đóng vai cây tiên phong, và chỗ nào nó không trồng được.

Nội dung bài

Cát ven biển di chuyển theo hai cách nào và gây hại ra sao?

Cát ven biển di chuyển theo hai cách, và cách thứ hai ít được nhắc tới hơn nhưng phá hại nhiều hơn. Cách thứ nhất là cát bay: gió cuốn cát trên mặt đụn, đụn di động dần theo hướng gió, và những lưỡi cát lớn gặm dần các cánh đồng phía trong. Cách thứ hai là cát chảy: mùa mưa bão, hàng trăm khe suối thường xuyên lẫn tạm thời chảy ngược từ phía đụn cát về nội đồng, cuốn theo lượng cát rất lớn, lấp ruộng, lấp dòng chảy, phủ nhà cửa và vườn tược.

Dải cát ven biển miền Trung rộng hơn 70.000 ha, với khí hậu và thổ nhưỡng rất khắc nghiệt (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 67). Ở Lệ Thuỷ (Quảng Bình) năm 1999, một trận lũ cát làm lộ móng trạm bơm và làm sập nhà ba gian của một hộ dân vì cát bị cuốn khỏi nền móng. Một số trận lũ cát lớn còn phá hạ tầng và gây thiệt hại về người (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 67; Truong và cộng sự, 2008b, tr. 51).

Ở quy mô khu vực, tổng quan của Wan Shiao Dong và cộng sự (2024) ghi nhận xói lở bờ biển Đông Nam Á đang tăng theo mực nước biển dâng, nước dâng do bão và sự thay đổi của gió mùa, tức các yếu tố đẩy cát cũng đang mạnh lên.

Mặt cắt một đụn cát ven biển với gió từ phía biển cuốn cát bay qua đỉnh đụn về phía đồng ruộng, và dòng nước mưa chảy từ sườn đụn về phía nội đồng mang theo cát chảy lấp ruộng, hai cách cát di chuyển cần chống cát bay
Cát bay và cát chảy trên một đụn cát ven biển: gió đẩy cát qua đỉnh đụn, nước mưa kéo cát xuống ruộng phía trong.

Vì sao đụn cát lại khó giữ đến thế? Vì cát khô, nghèo dinh dưỡng, nóng trên bề mặt, không giữ nước, và gió mạnh hơn cả ở những chỗ thấp giữa hai đụn. Cây gì đứng được trên đó phải vừa chịu hạn, vừa chịu nghèo, vừa có bộ rễ bám sâu để không bị cát vùi hay cát rút khỏi gốc.

Vì sao phi lao và đê cát chưa đủ để chống cát bay?

Phi lao, dứa dại và đê cát chưa đủ vì chúng chặn được một phần gió nhưng không chặn được nước, và cát chảy đi theo nước. Phi lao từ lâu đã được trồng trên hàng ngàn hecta cồn cát miền Trung, dứa dại được trồng dọc các bờ suối và ven cồn. Khi đã đủ rậm, chúng hạn chế được phần nào cát bay; nhưng chúng không tạo được hàng rào kín ở sát mặt đất, và bộ rễ không ăn đủ sâu để giảm cát chảy (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 51).

Ở một số nơi người dân đắp đê cát dọc các dòng chảy, phía trên trồng phi lao, bạch đàn, dứa dại. Cách này không thành công: lưỡi cát vẫn tiếp tục lấn đồng ruộng, nhất là về mùa mưa, và tai hoạ chỉ chuyển từ ruộng này sang ruộng khác. Phi lao non gặp rét dưới 10 độ có thể chết, dứa dại khô héo khi quá khô nóng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 51).

Kè đá cứng thì hoàn toàn không phù hợp với đụn cát, dù vẫn được xây ở một số đoạn đường ven biển Phú Yên và Bình Định. Ngay cả chương trình trồng cây trên mặt trượt của đụn cát ở Bắc Phi do FAO thực hiện cũng thất bại với chi phí lớn (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 49; Truong và cộng sự, 2008b, tr. 49).

Có phải vì cây chưa đủ khoẻ? Một phần.

Nghiên cứu ở Đài Loan của Lee và cộng sự (2020) đo sức kháng kéo rễ của ba loài cây tiên phong trên đụn cát trước biển được 6,65 đến 16,68 MPa, và cây một năm tuổi có lực nhổ bật gốc 0,013 đến 0,074 kN. Những loài đó có vai trò riêng ở dải cát sát mép nước. Nhưng để giữ chân đụn và chặn dòng cát chảy, người ta cần một hàng rào kín sát mặt đất, có rễ sâu, và mọc đủ nhanh để khép trước mùa mưa. Đó là chỗ cỏ Vetiver được thử.

Cát cũng là loại đất mà rễ cỏ tác động rõ nhất. Thí nghiệm ba trục trên cát có rễ cỏ Vetiver của Karimzadeh và cộng sự (2021) cho góc ma sát tăng khoảng 10 độ ở áp lực bao thấp, và rễ giúp cát chống hoá lỏng khi chịu tải lặp. Thí nghiệm mưa nhân tạo ở Ấn Độ của Ashwini và Ramakrishnegowda (2026) đo cát có hàng cỏ sau một năm thấm thêm 60% và giảm 30% dòng chảy mặt. Cả hai là số đo trong phòng thí nghiệm trên mô hình nhỏ, chưa phải trên đụn cát thật, nên OlaFarm chỉ dùng chúng để giải thích cơ chế.

Chống cát bay bằng hàng cỏ Vetiver: bố trí ở đâu, trồng thế nào?

Câu trả lời đến từ một thử nghiệm trên đụn cát Lệ Thuỷ, Quảng Bình, bắt đầu tháng 2 năm 2002, và cách làm ở đó vẫn là cách OlaFarm dùng làm mốc. Cỏ Vetiver (tên khoa học Chrysopogon zizanioides) là loài cỏ bụi cao 1 đến 2 m, ra hoa nhưng không kết hạt, không có thân bò nên không lan thành cỏ dại; rễ mọc thẳng xuống thành màn dày, đạt 2 đến 3 m ngay năm đầu ở đất tốt (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 52). Hàng cỏ trồng khít theo đường đồng mức khép kín thành hàng rào sát mặt đất, giữ lại bùn cát ở phía trên hàng.

Nhân công tháo hàng rào dây thép giữa các khóm cỏ Vetiver trồng thành vạt trên đất cát khô của một trang trại ven biển, cỏ Vetiver làm cây tiên phong khi chống cát bay trên đất cát đỏ
Một trang trại ven biển tại Ninh Thuận, cỏ Vetiver được trồng làm cây tiên phong trên đất cát đỏ, giúp hạn chế cát bay, xói mòn, giữ độ ẩm và gia tăng lớp mùn bề mặt.

Tại Lệ Thuỷ, một dòng suối chỉ chảy vào mùa mưa xói chân đụn cát và cuốn cát xuống lấp các thửa ruộng phía tây, gây mâu thuẫn giữa lâm trường và hợp tác xã. Nhóm của TS. Trần Tân Văn, với hỗ trợ kỹ thuật của Elise Pinners và TS. Phạm Hồng Đức Phước, trồng ba đến bốn hàng cỏ Vetiver men theo đường đồng mức dưới chân đụn, từ mép suối lên.

Vì lo cây không sống nổi, họ bón thêm phân chuồng hoặc đất tốt trước khi lấp cát, tưới ngày hai lần rồi giảm còn một lần. Sau bốn tháng, cỏ mọc tốt, tạo thành hàng rào kín và chân đụn ổn định (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 67–68).

Kết quả ấy có hai điều bất ngờ. Khi trồng đại trà thêm ở các đụn khác và để bảo vệ một mố cầu trên Quốc lộ 1, cỏ vẫn phát triển ngay cả khi trồng trực tiếp bằng rễ trần vào cát, không cần trộn đất tốt hay phân chuồng. Và cỏ sống qua mùa đông lạnh hiếm thấy trong hơn mười năm, khi nhiệt độ xuống dưới 10 độ làm chết cả mạ lúa lẫn phi lao non. Cách làm sau đó được nhân ra Vĩnh Linh và Triệu Phong (Quảng Trị, 2003) và dự án giảm nhẹ thiên tai Quảng Ngãi (2003 đến 2006) (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 68 và 122).

Vậy hàng cỏ đặt ở đâu? Có hai vị trí, ứng với hai cách cát di chuyển. Chống cát chảy thì trồng hàng theo đường đồng mức ở chân đụn và dọc hai bên dòng chảy, như Lệ Thuỷ đã làm. Ví dụ giả định, con số OlaFarm đặt ra cho tròn: một đoạn chân đụn dài 200 m trồng bốn hàng là 800 m dài hàng, với cây cách cây 12 cm thì cần khoảng 6.700 tép, chưa kể phần dặm.

Chống cát bay thì trồng hàng chắn ngang hướng gió ở các yên ngựa giữa những đụn cát và ở những chỗ địa hình thấp khác, nơi vận tốc gió lớn, theo gợi ý của GS. Henk Jan Verhagen (Đại học Công nghệ Delft). Cách này đã được dùng trên đảo Pintang ngoài khơi Phúc Kiến (Trung Quốc), nơi hàng cỏ giảm rõ vận tốc gió và cát bay, và trên đụn cát ở một khu nghỉ dưỡng ven biển Senegal (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 68; Truong và cộng sự, 2008c, tr. 59).

Bộ tiêu chuẩn TVNI về xói mòn do gió và di chuyển cát xếp cách bố trí thành ba dạng: hàng chắn đặt vuông góc hướng gió chủ đạo và bịt hai đầu để gió không luồn qua; lưới ô vuông giữ cát di động; và với đụn ven biển thì hàng chạy song song đỉnh đụn, thêm hàng trên sườn đón gió (TVNI, A10-WIND-EROSION v1, 2026, tr. 3). Cần nói rõ đây mới là bản dự thảo dựng khung, các ô trị số còn để trống, nên nó cho biết một thiết kế đụn cát phải khai những thông số nào chứ chưa cho sẵn con số nào.

Hình nhìn chéo một dải đụn cát ven biển với hàng cỏ Vetiver trồng theo đường đồng mức ở chân đụn để chống cát chảy và hàng cỏ Vetiver trồng chắn ngang hướng gió ở yên ngựa giữa hai đụn để chống cát bay
Bố trí hàng cỏ Vetiver chống cát bay và cát chảy trên đụn cát: hàng đồng mức ở chân đụn chặn nước, hàng ngang gió ở yên ngựa chặn gió.

Còn trồng thế nào trên cát? Bốn việc quyết định tỷ lệ sống, theo cả tài liệu lẫn kinh nghiệm dự án của OlaFarm với đất cát, một trong những loại đất khó cùng với đá phong hoá, sét nặng và đá dăm. Một là thời điểm: trồng vào mùa mưa ẩm, trời mát; ở Lệ Thuỷ các hàng được trồng vào tháng 2 và tháng 10 (Truong và cộng sự, 2008c, tr. 59), tránh mùa gió Lào khô nóng.

Hai là dinh dưỡng: bón phân hữu cơ hoặc đất tốt vào rãnh trồng. Ba là nước: mùa khô tưới một đến hai lần mỗi ngày lúc mới trồng, vì cỏ thiếu nước sẽ còi. Bốn là giống: trên cát khắc nghiệt nên dùng bầu ươm hoặc trồng cụm 3 đến 5 tép để tăng tỷ lệ sống; theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, điều kiện khắc nghiệt nhưng chăm sóc tốt vẫn đạt tỷ lệ sống trên 90%.

Số đo ở Ninh Thuận cho thấy cây lên nhanh trên cát tới mức nào: trên đất có 96% là cát, thí nghiệm của Lê Văn Dũ và Truong (2006) trong các năm 2003 đến 2005 ghi sinh khối tươi 12 tấn mỗi hecta chỉ sau hai tháng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 124). Trên đụn cát còn thêm một việc: cát khô có thể trượt dần xuống chân, vùi hoặc cuốn trôi cỏ mới trồng, nên phải theo dõi và dặm kịp thời cho tới khi hàng kín (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 122). Phần trồng và chăm sóc từng bước nằm ở bài quy trình thi công trồng cỏ Vetiver chống sạt lở.

Bãi cỏ Vetiver trồng trên vùng đất cát ven biển với rừng phi lao và dãy núi phía xa, cỏ đã trưởng thành và một phần vừa được cắt
Cỏ Vetiver trưởng thành trên đất cát cạnh rừng phi lao. Hai loài này đứng cạnh nhau được, mỗi loài giữ một tầng.

Cỏ Vetiver trên đụn cát có giới hạn nào và cần bao lâu?

Giới hạn của cỏ Vetiver trên đụn cát nằm ở ba chỗ: bóng râm, nước biển và thời gian. Ba chỗ đó quyết định hàng cỏ đứng ở đâu và đứng được bao lâu.

Thứ nhất là bóng râm, và đây là giới hạn có lợi. Ở Lệ Thuỷ, sau hai năm, phi lao, dứa dại và bạch đàn mọc lên rất tốt giữa các hàng cỏ, và bóng của chúng làm cỏ Vetiver lụi dần sau khi xong vai tiên phong (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 68). Mức nhạy cảm ấy đã được đo: che 75% ánh sáng trong 15 tuần làm cây đẻ nhánh kém hẳn, và bốn tháng sau khi bỏ mái che, chiều cao mới bằng 85% còn khối lượng khô chỉ bằng 52% so với cây không bị che (TVNI, DS-VETIVER-MECHANISMS v3.1, 2026, tr. 45).

Cỏ ổn định mặt cát trước, cải thiện độ ẩm và dinh dưỡng, để loài bản địa bám được sau; khi rừng phi lao đã kín, cỏ nhường chỗ.

Bài cải tạo đất giải thích cơ chế cây tiên phong này. Với người quản lý, điều đó có nghĩa là hàng cỏ trên đụn cát là giải pháp cho năm năm đầu, và mục tiêu cuối vẫn là rừng phòng hộ.

Thứ hai là nước biển. Cỏ Vetiver chịu mặn trong đất tới ngưỡng 8 dS/m và còn sống ở đất rất mặn (Truong và cộng sự, 2002), nhưng thí nghiệm nhà kính của Đoàn Chí Cường và cộng sự (2015) pha nước vịnh Đà Nẵng cho thấy cây chỉ sinh trưởng được trong nước tới độ mặn 11 phần nghìn, và chết ở nước mặn hơn 20 phần nghìn sau 30 ngày. Nước biển thường quanh 32 đến 35 phần nghìn.

Có một trường hợp riêng cần nhớ, và nó rút ra từ chính các chương trình ở miền Trung: trên nền cát thô có nước ngầm lợ hoặc mặn, rễ cỏ Vetiver được ghi nhận là không xuyên xuống được.

Tiêu chuẩn thiết kế vùng mép nước xếp đó là giới hạn của loài trên nền đất ấy, không quy về lỗi thi công, và nói thẳng rằng không đổi cỡ tép, độ sâu rãnh hay chế độ tưới nào khắc phục được: hàng sát chân phải là một loài chịu mặn đã được chứng minh tại chỗ, còn cỏ Vetiver đặt lên phần cao hơn, trên tầm ảnh hưởng của nước mặn (TVNI, DS-WATER-MARGINS v2, 2026, tr. 10).

Cũng tiêu chuẩn đó dặn đừng đọc rộng điều khoản này thành một giới hạn mặn chung. Cái được ghi nhận là tổ hợp của hai thứ cùng lúc: nền cát thô và nước ngầm mặn. Đất có kết cấu bình thường mà nhiễm mặn thì khả năng chịu mặn của cây vẫn vững như số liệu ở trên.

Vì thế hàng cỏ đặt trên đụn và chân đụn phía đất liền, không đặt ở dải cát bị sóng và triều ngập thường xuyên; dải sát mép nước thuộc về các loài bãi trước và rừng ngập mặn nơi có. Bài đất nhiễm mặn có đầy đủ các ngưỡng đó.

Thứ ba là thời gian. Hàng cỏ chỉ chặn được cát khi đã khép kín, ở Lệ Thuỷ là bốn tháng với tưới đầy đủ (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 68); chỉ số ổn định của bộ tiêu chuẩn hiện hành lấy mốc hàng khép hoàn toàn trong vòng 6 tháng, và nếu khí hậu làm chậm thì phải khai khoảng thời gian dự kiến ngay ở bước thiết kế (TVNI, DS-VETIVER-MECHANISMS v3.1, 2026, tr. 53); theo kinh nghiệm dự án của OlaFarm, ở thời tiết thuận lợi hàng khép sau 4 đến 6 tháng.

Trong khoảng đó cát vẫn di chuyển, nên lịch trồng phải lùi về trước mùa gió mạnh hoặc mùa mưa lũ từng ấy tháng, và hàng phải được tưới, dặm liên tục.

Việc cần làmChống cát chảyChống cát bay
Vị trí hàng cỏChân đụn và dọc hai bên dòng chảy, theo đường đồng mứcYên ngựa giữa các đụn và chỗ địa hình thấp, chắn ngang hướng gió
Số hàng để bắt đầuBa đến bốn hàng từ mép dòng chảy lên, như Lệ ThuỷTừng dải hàng ở mỗi yên ngựa, bổ sung theo quan sát gió
Thời điểm trồngTrước mùa mưa lũ 4 đến 6 tháng, trời mát ẩmTrước mùa gió mạnh 4 đến 6 tháng
Chăm sóc riêngDặm chỗ bị nước xói trong mùa mưa đầuDặm chỗ bị cát vùi hoặc cát rút khỏi gốc
Mục tiêu cuốiChân đụn ổn định, ruộng phía trong không bị lấpĐụn ngừng di động, cây bản địa mọc lại giữa hàng

Tóm lại, chống cát bay ven biển phải chặn được cả gió lẫn nước, vì cát đi theo cả hai đường; phi lao và đê cát chặn gió một phần nhưng không chặn được cát chảy. Hàng cỏ Vetiver trồng theo đường đồng mức ở chân đụn chặn nước, trồng chắn ngang gió ở yên ngựa chặn gió, khép kín sau bốn đến sáu tháng nếu tưới và dặm đủ, rồi nhường chỗ cho cây bản địa khi rừng đã kín.

Nếu bạn đang có một đụn cát, một dải cát lấn ruộng hay một dòng cát chảy cần chống cát bay và cát chảy, và muốn biết hàng cỏ nên đặt ở đâu, trồng vào tháng nào và cần bao nhiêu giống, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem ảnh hiện trạng, hướng gió và mùa mưa của khu vực để đề xuất cách bố trí hàng, dạng giống và thời điểm xuống giống. Bạn có thể gửi thông tin cho chúng tôi qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Chống cát bay bằng cỏ Vetiver đã được thử ở Việt Nam chưa?

Đã thử từ năm 2002 trên đụn cát Lệ Thuỷ (Quảng Bình), rồi nhân ra Quảng Trị năm 2003 và Quảng Ngãi giai đoạn 2003 đến 2006. Ở Lệ Thuỷ, ba đến bốn hàng cỏ theo đường đồng mức dưới chân đụn khép kín sau bốn tháng và giữ ổn định chân đụn; lâm trường sau đó trồng đại trà thêm và dùng cỏ bảo vệ một mố cầu trên Quốc lộ 1 (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 67–68 và 122).

Cỏ Vetiver có sống được trên cát khô, không có đất thịt không?

Sống được. Khi trồng đại trà ở Lệ Thuỷ, cỏ vẫn phát triển ngay cả khi trồng trực tiếp bằng rễ trần vào cát, không cần trộn đất tốt hay phân chuồng; thí nghiệm ở Ninh Thuận trên đất 96% cát cho sinh khối tươi 12 tấn mỗi hecta sau hai tháng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 122 và 124). Điều kiện là tưới đủ trong mùa khô, một đến hai lần mỗi ngày lúc mới trồng, và dặm kịp chỗ bị cát vùi.

Tôi nên trồng hàng cỏ ở chân đụn hay trên đỉnh đụn?

Tuỳ cát đi theo đường nào. Cát chảy theo nước thì trồng hàng theo đường đồng mức ở chân đụn và dọc hai bên dòng chảy. Cát bay theo gió thì trồng hàng chắn ngang hướng gió ở yên ngựa giữa các đụn và ở chỗ địa hình thấp, nơi gió mạnh. Nhiều đụn cần cả hai, và đỉnh đụn lộng gió thường không phải chỗ đặt hàng đầu tiên.

Hàng cỏ Vetiver trên đụn cát tồn tại được bao nhiêu năm?

Thường vài năm, và đó là điều mong muốn. Ở Lệ Thuỷ, sau hai năm phi lao, dứa dại và bạch đàn mọc lại rất tốt giữa các hàng cỏ, và cỏ lụi dần dưới bóng chúng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 68). Cỏ Vetiver không ưa bóng râm, nên khi rừng phòng hộ đã kín thì hàng cỏ đã xong vai tiên phong; nơi chưa có cây bản địa mọc lại thì hàng cỏ vẫn đứng và cần cắt tỉa, dặm như bình thường.

Đụn cát nhà tôi sát mép biển, sóng đánh tới, trồng cỏ Vetiver có được không?

Phần bị sóng và triều ngập thường xuyên thì không. Cỏ chết ở nước mặn hơn 20 phần nghìn sau 30 ngày theo thí nghiệm của Đoàn Chí Cường và cộng sự (2015), trong khi nước biển thường quanh 32 đến 35 phần nghìn. Hàng cỏ đặt từ chân đụn phía đất liền trở lên, còn dải cát sát mép nước cần các loài bãi trước chịu sóng hoặc rừng ngập mặn nơi có bùn.

Tài liệu tham khảo

  • Ashwini, D. và Ramakrishnegowda, C. (2026). Impact of reinforcing vetiver grass roots on controlling soil erosion. Soils and Rocks, 49(3), e2026016525. https://doi.org/10.28927/sr.2026.016525
  • Đoàn Chí Cường, Võ Văn Minh và Truong, P. (2015). Effects of sea water salinity on the growth of vetiver grass. Trong Proceedings of the Sixth International Conference on Vetiver, Đà Nẵng.
  • Karimzadeh, A. A., Leung, A. K., Hosseinpour, S., Wu, Z. và Fardad Amini, P. (2021). Monotonic and cyclic behaviour of root-reinforced sand. Canadian Geotechnical Journal. https://doi.org/10.1139/cgj-2020-0626
  • Lê Văn Dũ và Truong, P. (2006). Vetiver system for improving saline and alkaline soils in Ninh Thuận, Vietnam. Trong Proceedings of the Fourth International Conference on Vetiver, Caracas.
  • Lee, J.-T., Yen, L.-Z., Chu, M.-Y., Lin, Y.-S., Chang, C.-C., Lin, R.-S., Chao, K.-H. và Lee, M.-J. (2020). Growth characteristics and anti-wind erosion ability of three tropical foredune pioneer species for sand dune stabilization. Sustainability, 12(8), 3353. https://doi.org/10.3390/su12083353
  • The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Vetiver Hedge Mechanisms (DS-VETIVER-MECHANISMS), v3.1, ngày 2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
  • The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Water margins and watercourse banks (DS-WATER-MARGINS), v2, ngày 30/08/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
  • The Vetiver Network International (TVNI). (2026). Wind Erosion Control & Sand Movement Management (A10-WIND-EROSION), v1, ngày 18/01/2026. Trong: VGT Global Design Standards and Guides. https://vetiver.org/vetiver-grass-technology/design-standards/
  • Truong, P., Gordon, I., Armstrong, F. và Shepherdson, J. (2002). Vetiver grass for saline land rehabilitation under tropical and Mediterranean climate. Trong Proceedings of the 8th National Conference on Productive Use of Saline Lands, Fremantle.
  • Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008b). Vetiver System for Slope Stabilization. The Vetiver Network International.
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008c). Vetiver System for Agriculture. The Vetiver Network International.
  • Wan Shiao Dong, Aminah Ismailluddin, Lee Shin Yun, Effi Helmy Ariffin, Cherdvong Saengsupavanich, Khairul Nizam Abdul Maulud, Muhammad Zahir Ramli, Mohd Fuad Miskon, Muhammad Hafeez Jeofry, Juliana Mohamed, Fazly Amri Mohd, Saiful Bahri Hamzah và Kamaruzzaman Yunus (2024). The impact of climate change on coastal erosion in Southeast Asia and the compelling need to establish robust adaptation strategies. Heliyon, 10(4), e25609. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2024.e25609

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *