Trang chủ › Chống sạt lở & xói mòn › Các loại sạt lở: phân loại, dấu hiệu nhận biết và cách xử lý

Các loại sạt lở: phân loại, dấu hiệu nhận biết và cách xử lý

Tác giả ThS. Phạm Thị NhànCập nhật 07/09/2026Đọc 12 phútChuyên mục Chống sạt lở & xói mòn

Tóm tắt

Các loại sạt lở được phân theo hai trục: kiểu chuyển động của khối đất đá (rơi, trượt, chảy hoặc phức hợp) và vật liệu bị phá hoại (đá hay đất). Mỗi loại có tốc độ và độ sâu mặt phá hoại riêng, nên có chỗ can thiệp riêng. Bài viết này trình bày bảng phân loại các loại sạt lở, dấu hiệu nhận ra từng loại ngoài hiện trường, những nơi sạt lở hay xảy ra, và giải thích vì sao chỉ một phần trong số đó nằm trong tầm của lớp phủ thực vật như cỏ Vetiver.

Mái taluy đào cao gần dựng đứng cắt vào sườn đồi đất đỏ, nhân công đứng trên thang nhôm để trồng cỏ, cho thấy quy mô vết cắt là nơi các loại sạt lở taluy hay bắt đầu
Một mái taluy đào cắt sâu vào sườn đồi. Hình dạng vết cắt và chiều cao mái quyết định phần lớn kiểu hỏng mà mái này sẽ gặp.

Mái dốc của bạn vừa hỏng sau mưa, nhưng nó hỏng theo kiểu nào? Đất trượt cả khối theo một mặt cong, hay chỉ lớp mặt bị nước cuốn đi? Chân bờ bị khoét rỗng rồi sập, hay đá từ trên vách rơi xuống? Trong bài viết này, OlaFarm sẽ giúp bạn phân biệt các loại sạt lở bằng hai trục mà giới địa kỹ thuật vẫn dùng, kèm dấu hiệu đọc được bằng mắt cho từng loại.

Bài viết cũng hướng đến việc giúp bạn khoanh vùng: loại nào còn nằm trong tầm xử lý bằng lớp phủ thực vật, loại nào bắt buộc phải giải quyết bằng công trình, và loại nào chỉ có thể tránh chứ không giữ.

Nội dung bài

Các loại sạt lở được phân theo kiểu chuyển động và loại vật liệu

Cách phân loại được dùng rộng rãi trong địa kỹ thuật đặt hai câu hỏi cho mỗi vụ hỏng: khối vật liệu di chuyển như thế nào, và vật liệu đó là gì. Hai câu hỏi ấy tạo thành một bảng, và gần như mọi vụ sạt lở đều rơi vào một ô của bảng đó (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 22). Bảng gốc do Varnes lập, sau được Hungr và cộng sự (2014) rà lại và cập nhật thuật ngữ; bản dưới đây là dạng rút gọn đủ dùng cho công trình dân dụng và giao thông.

Kiểu chuyển độngTrong đáTrong đấtTốc độ
RơiĐá rơiĐất rơi từ vách đứngRất nhanh, tính bằng giây
Trượt xoaySụt khối đá theo mặt congSụt khối đất theo mặt congChậm đến trung bình
Trượt tịnh tiếnTrượt theo mặt yếu có sẵnTrượt mảnh vụn theo mặt phẳngTrung bình đến nhanh
Chảy chậmĐá bòĐất bòRất chậm, tính bằng năm
Chảy nhanh—Dòng bùn, dòng mảnh vụn, lũ quét sườnRất nhanh
Phức hợpHai kiểu trở lên xảy ra cùng một mái

Căn cứ: tài liệu kỹ thuật quốc tế về ổn định mái dốc; chuẩn phân loại Varnes bản cập nhật.

Vì sao lại tách theo vật liệu? Vì đá và đất hỏng theo cách khác nhau. Đá thường có sẵn khe nứt và mặt lớp, nên nó rơi hoặc trượt theo đúng những mặt yếu ấy. Đất thì đồng nhất hơn và không có mặt yếu nhìn thấy được, nên nó thường sụt theo một mặt cong hoặc chảy ra (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 22). Đó là lý do một mái đất và một vách đá cạnh nhau, cùng chịu một trận mưa, lại hỏng theo hai kiểu hoàn toàn khác.

Trên thực địa, một mái hiếm khi chỉ hỏng theo một kiểu. Phần trên sụt khối, phần dưới hoá bùn chảy ra chân mái. Đó là dạng phức hợp, và nó phổ biến hơn các dạng thuần (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 22).

Bảng này để biết mặt phá hoại nằm ở đâu.

Năm mặt cắt mái dốc cạnh nhau minh hoạ năm kiểu chuyển động trong các loại sạt lở, gồm rơi từ vách đứng, trượt xoay theo mặt cong, trượt tịnh tiến theo mặt phẳng yếu, chảy chậm làm cây nghiêng và dòng bùn chảy nhanh xuống chân mái
Năm kiểu chuyển động đứng sau các loại sạt lở thường gặp. Hình dạng mặt phá hoại khác nhau, nên chỗ phải can thiệp cũng khác nhau.

Nhận dạng từng loại sạt lở ngoài hiện trường bằng dấu hiệu nào?

Bốn dấu hiệu dưới đây đọc được bằng mắt, không cần thiết bị, và đủ để khoanh loại trước khi mời đơn vị khảo sát.

Vách cung và bậc thềm ở đỉnh mái. Nếu đỉnh mái xuất hiện một vệt nứt hình cung, phía dưới vệt nứt là một bậc tụt xuống so với mặt đất nguyên, thì đó là trượt xoay. Mặt phá hoại của nó cong như lòng thìa, cắm từ đỉnh mái xuống rồi ngoi lên ở chân. Khối đất tụt xuống nhưng vẫn giữ nguyên hình dạng, nhiều khi cây trên đó vẫn đứng thẳng và vẫn sống.

Cây thân gỗ cong hình lưỡi kiếm. Thân cây cong ở gốc rồi thẳng dần lên ngọn là dấu của đất bò, tức là đất dịch chuyển rất chậm theo mùa. Cây phải liên tục vươn thẳng lên trong khi gốc bị đẩy đi, và độ cong ấy ghi lại toàn bộ lịch sử dịch chuyển. Đất bò không gây tai nạn tức thời, nhưng nó là dấu báo mái đang ở trạng thái giới hạn.

Hàm ếch dưới chân bờ. Ở bờ sông, bờ kênh và bờ biển, nước lấy đất đi từ dưới lên. Dòng chảy khoét vào chân bờ, để lại một khoảng rỗng phía dưới trong khi mặt bờ phía trên vẫn còn nguyên. Phần treo đó gọi là hàm ếch, và nó sập khi trọng lượng bản thân vượt sức chịu của lớp đất còn lại.

Vệt bùn hình quạt ở chân mái. Dòng bùn để lại một dải vật liệu mịn loe rộng ra ở chân dốc, mặt trên nhẵn và có sóng. Khác với trượt khối, vật liệu ở đây đã mất hết cấu trúc và đã chảy như chất lỏng đặc.

Vậy dấu hiệu nào đáng lo nhất? Đó là vết nứt mới xuất hiện sau một trận mưa vừa phải, kể cả khi vết nứt ấy còn nhỏ. Nó cho thấy mái đã mất phần dự phòng vốn có, và trận mưa lớn tiếp theo sẽ làm nốt phần còn lại.

Sạt lở hay xảy ra ở đâu, và mỗi nơi hỏng theo cách nào?

Cùng một kiểu chuyển động, đặt vào bốn địa hình khác nhau, sẽ cho bốn bài toán khác nhau.

Taluy đào. Đây là vết cắt vào sườn đồi để lấy mặt bằng đường hoặc mặt bằng xây dựng. Cắt vào sườn tức là lấy đi phần đất vốn đang chống đỡ khối phía trên, nên taluy đào bắt đầu cuộc đời của nó ở trạng thái kém ổn định hơn sườn tự nhiên. Trên tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn Hà Tĩnh đến Kon Tum dài hơn 1.000 km, gần 200 km đã, đang hoặc có nguy cơ trượt lở nghiêm trọng (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 44).

Taluy đắp. Ngược với taluy đào, đây là khối đất được đổ và đầm lên. Vật liệu rời chỉ đứng được ở góc nghỉ của nó, thường 30 đến 35 độ tuỳ loại đất (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 19). Đắp dốc hơn góc ấy mà không có biện pháp gia cường thì mái sẽ tự tìm về góc nghỉ, bằng cách trượt bớt phần thừa xuống.

Lấy một ví dụ giả định để thấy phần thừa ấy lớn cỡ nào, con số tôi đặt ra cho tròn. Một mái đắp cao 6 m, dài 100 m, đắp ở 40 độ trong khi góc nghỉ của vật liệu là 33 độ. Chân mái ở 40 độ rộng 6 ÷ tan 40° ≈ 7,2 m; nếu hạ về 33 độ thì chân phải rộng 6 ÷ tan 33° ≈ 9,2 m. Chênh lệch 2 m chân mái trên suốt 100 m dài chính là phần đất đang chờ trượt xuống, và cũng là phần mặt bằng bạn phải trả thêm nếu chọn hạ mái thay vì gia cường.

Bờ sông và bờ kênh. Ở đây phá hoại là kết quả của hai lực gặp nhau: lực thuỷ lực tác động ở đáy và ở chân bờ, và trọng lực tác động lên khối đất bờ. Xói chân làm bờ cao thêm và dốc thêm, đến một lúc trọng lực thắng sức kháng cắt của đất bờ và bờ sập theo kiểu phẳng, xoay hoặc hàm ếch (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 20). Có một tình huống ít được nhắc: sạt lở bờ sông không chỉ xảy ra mùa lũ. Ở thôn Hậu Viên, huyện Cam Lộ, Quảng Trị, bờ sông lở vào mùa khô, đúng lúc nước xuống thấp nhất (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 18).

Dòng sông chảy sát chân dãy sườn dốc đã trượt lở trắng xoá phía trên, minh hoạ kiểu sạt lở bờ sông bắt đầu từ chỗ nước khoét chân dốc
Nước ăn vào chân sườn dốc. Ở nhóm này, hư hỏng bắt đầu từ dưới đáy chứ không phải từ mặt mái, nên biện pháp đặt trên mặt mái không chạm được vào nguyên nhân.

Ven biển và bờ đầm. Sóng vỗ, giẫm đạp, và dòng thấm ngầm đẩy hạt mịn ra khỏi thân bờ là ba đường phá hoại không do dòng chảy trực tiếp gây ra (Truong và cộng sự, 2008b, tr. 20). Bờ có nhiều lớp đất khác nhau càng dễ hỏng theo đường thứ ba, vì nước ngầm chảy men theo mặt tiếp giáp giữa hai lớp.

Bốn mặt cắt cạnh nhau minh hoạ bốn nơi xảy ra các loại sạt lở, gồm taluy đào cắt vào sườn đồi, taluy đắp đổ cao hơn góc nghỉ, bờ sông bị nước khoét chân và bờ biển bị sóng vỗ, mỗi mặt cắt đánh dấu chỗ hư hỏng bắt đầu
Bốn nơi sạt lở hay xảy ra. Chỗ hư hỏng bắt đầu nằm ở vị trí khác nhau, nên biện pháp cũng phải đặt ở chỗ khác nhau.

Loại sạt lở nào trồng cỏ giữ được, loại nào không?

Lớp phủ thực vật làm việc trong tầng đất mà rễ với tới, và đó chính là ranh giới của nó.

Cỏ Vetiver (tên khoa học Chrysopogon zizanioides) là loài cỏ mọc thành bụi, không kết hạt và không có thân bò, được dùng để giữ mái nhờ bộ rễ mọc thẳng xuống thành màn dày. Tổng quan kỹ thuật năm 2024 của Chakraborty và Khan (2024) rút ra một kết luận thẳng thắn về phạm vi: hiệu quả gia cường của rễ giảm dần theo độ sâu, nên biện pháp này hợp với trượt nông, không hợp với mặt trượt sâu.

Con số cụ thể đi cùng kết luận đó. Mô hình số của Badhon và cộng sự (2021) cho thấy trên mái đất cát, rễ cỏ Vetiver làm hệ số an toàn tăng đến 20,6%, nhưng trên đất sét có mặt trượt nằm sâu thì mức tăng không đáng kể. Nghiên cứu ở Ecuador của Chávez-Torres và cộng sự (2026) kết luận cùng chiều: phần đóng góp do lớp đất có rễ dày khoảng 2 m quyết định.

Độ dốc cũng là một ngưỡng. Phân tích xác suất trên các sườn dốc nhiệt đới ở Guam sau bốn cơn bão năm 2023 của Patil và cộng sự (2025) cho thấy mái từ 40 độ trở xuống có xác suất phá hoại bằng không, còn ở mái 45 đến 60 độ thì rễ cỏ Vetiver nâng hệ số an toàn trung bình 12 đến 15%.

Loại sạt lởLớp cỏ làm được gìViệc phải giao cho công trìnhCăn cứ
Xói bề mặt, rãnh xóiGiữ được, đây là phạm vi mạnh nhấtKhông cần, trừ chỗ dòng tập trungKinh nghiệm dự án OlaFarm
Trượt nông trong tầng rễ khoảng 2 mGóp thêm vào lực giữ, mức tăng tuỳ loại đấtKhông cần nếu mái đã ổn định bên trong(Badhon và cộng sự, 2021; Chávez-Torres và cộng sự, 2026)
Trượt sâu dưới tầng rễKhông với tớiNeo đất, cọc, tường chắn(Chakraborty và Khan, 2024)
Rơi đá từ vách đứngKhông giữ đượcLưới chắn, chốt đá, hạ tải đỉnhTài liệu kỹ thuật quốc tế
Dòng bùn, dòng mảnh vụnKhông giữ được khi đã chảyRãnh dẫn, hố lắng, công trình chắnTài liệu kỹ thuật quốc tế
Xói chân bờ sông, bờ kênhGiữ phần mái phía trênKè chân, chống xói đáy(Truong và cộng sự, 2008b, tr. 20)

Còn một tình huống mà cả rễ lẫn mặt mái đều không đỡ được: nước rút nhanh. Nghiên cứu trên kênh đất của Hazim và Ziar (2026) tính ra hệ số an toàn tụt xuống 1,10 khi mực nước hạ đột ngột, và đó là tình huống xấu nhất trong các trường hợp họ xét. Lý do dễ hình dung: khi lòng kênh đầy nước, cột nước bên ngoài đỡ một phần cho bờ; nước rút đi, phần đỡ ấy mất trong vài giờ, trong khi nước trong thân bờ chưa kịp thoát ra.

Vậy nên đọc bảng trên như thế nào? Đọc theo thứ tự: xác định loại trước, xem loại đó nằm ở dòng nào, rồi mới hỏi trồng cỏ hay làm công trình. Bài cơ chế chống sạt lở của cỏ Vetiver trình bày phần rễ giữ đất bằng số đo, còn bài giải pháp xanh chống sạt lở đặt lớp xanh cạnh công trình cứng trên cùng một bảng chi phí.

Tóm lại, các loại sạt lở khác nhau ở kiểu chuyển động, ở vật liệu và ở độ sâu mặt phá hoại, nên chúng cũng khác nhau ở chỗ phải can thiệp. Việc nên làm theo thứ tự là gọi tên loại, xác định mặt phá hoại nằm nông hay sâu, rồi mới chọn giữa lớp phủ thực vật, công trình, hoặc cả hai. Với mái trượt sâu hay vách đá rơi, trồng cỏ không thay được phần công trình, và OlaFarm nói điều đó với khách trước khi bán giống.

Nếu bạn đang có một mái dốc hoặc một đoạn bờ vừa xuất hiện vết nứt và chưa rõ nó thuộc loại sạt lở nào, OlaFarm rất sẵn lòng cùng bạn xem qua hiện trạng để khoanh loại và nói rõ phần nào hàng cỏ đảm nhận được. Bạn có thể gửi vài tấm ảnh chụp toàn mái, ảnh cận vết nứt và mô tả ngắn về chiều cao mái qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Tôi phân biệt các loại sạt lở với xói mòn đất bằng cách nào?

Xói mòn là mất đất theo từng hạt trên bề mặt, do mưa đập và dòng chảy mặt cuốn đi; sạt lở là cả một khối đất dịch chuyển cùng lúc theo một mặt phá hoại. Một mái có thể vừa xói mòn vừa chờ trượt, và xói mòn kéo dài chính là một trong những đường dẫn tới trượt, vì nó làm mái mất dần lớp bảo vệ và đôi khi khoét vào chân mái. Phần phân biệt chi tiết nằm ở bài xói mòn đất.

Mái nhà tôi có vết nứt hình cung ở đỉnh, đã trượt chưa?

Vết nứt hình cung ở đỉnh mái là dấu hiệu sớm của trượt xoay, nghĩa là khối đất đã bắt đầu tách ra nhưng chưa dịch chuyển đủ để nhìn thấy. Việc cần làm ngay là che mưa cho vết nứt để nước không chảy thẳng vào, không chất tải thêm lên đỉnh mái, và mời đơn vị địa kỹ thuật đo. Trồng cỏ vào lúc này không dừng được khối đang tách, vì cỏ cần vài tháng mới khép hàng và rễ chỉ với tới tầng nông.

Bờ sông nhà tôi lở vào mùa khô, có bất thường không?

Không bất thường. Bờ sông có thể lở khi mực nước xuống thấp nhất, và trường hợp ở Cam Lộ, Quảng Trị là một ví dụ đã được ghi nhận. Khi nước rút, cột nước bên ngoài không còn đỡ cho khối đất bờ, trong khi nước trong thân bờ thoát chậm hơn nhiều, nên phần chênh lệch đó đẩy bờ sập. Bờ nào có lớp cát xen lớp sét thì càng dễ gặp.

Trồng cỏ Vetiver có xử lý được mái đang trượt sâu không?

Không. Rễ cỏ Vetiver làm việc trong khoảng hai mét đất mặt, nên mặt trượt nằm sâu hơn khoảng đó thì rễ không cắt qua được và không góp thêm lực giữ đáng kể. Với những mái này, phần sâu phải do neo đất, cọc hoặc tường chắn đảm nhận, còn hàng cỏ đi kèm để giữ bề mặt và giảm nước thấm vào thân mái.

Mái dốc bao nhiêu độ thì còn trồng cỏ được?

Cỏ trồng được trên mái tới khoảng 45 đến 50 độ, và độ dốc càng lớn thì việc thi công càng khó và tỷ lệ sống càng giảm. Trên các sườn nhiệt đới ở Guam, mái từ 40 độ trở xuống cho xác suất phá hoại bằng không trong tính toán, còn mái 45 đến 60 độ vẫn ghi nhận mức tăng hệ số an toàn 12 đến 15% nhờ rễ. Với mái dốc hơn nữa, phải hạ mái, tạo bậc cơ hoặc chuyển sang giải pháp công trình.

Tài liệu tham khảo

  • Badhon, F. F., Islam, M. S. và Islam, M. A. (2021). Contribution of vetiver root on the improvement of slope stability. Indian Geotechnical Journal, 51(4), 829–840. https://doi.org/10.1007/s40098-021-00557-0
  • Chakraborty, A. và Khan, M. S. (2024). Soil bioengineering using vetiver for climate-adaptive slope repair: Review. Natural Hazards Review. https://doi.org/10.1061/nhrefo.nheng-2014
  • Chávez-Torres, J. L., Zhang, K., Rodríguez-Tapia, J. P. và Flores-Granda, A. N. (2026). Sustainable assessment of vetiver-based nature-based solutions for landslide hazard mitigation under groundwater, surcharge, and pseudo-static seismic conditions. Sustainability, 18(14), 7054. https://doi.org/10.3390/su18147054
  • Hazim, W. và Ziar, A. (2026). Integrated slope stability assessment of earthen canals under seismic loading using pseudostatic analysis and vetiver grass reinforcement. Scientific Reports. https://doi.org/10.1038/s41598-026-57515-0
  • Hungr, O., Leroueil, S. và Picarelli, L. (2014). The Varnes classification of landslide types, an update. Landslides, 11(2), 167–194. https://doi.org/10.1007/s10346-013-0436-y
  • Patil, U. D., Yeo, M.-H., Chakraborty, S., Congress, S. S. C. và Higgs, B. (2025). Probabilistic slope stability assessment of tropical hillslopes in southern Guam under typhoon-induced infiltration. Geosciences, 15(12), 453. https://doi.org/10.3390/geosciences15120453
  • Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
  • Truong, P., Van, T. T. và Pinners, E. (2008b). Vetiver System for Slope Stabilization. The Vetiver Network International.

OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.

Đọc tiếp

ThS. Phạm Thị Nhàn — Quản lý OlaFarm

ThS. Phạm Thị Nhàn

Quản lý OlaFarm — Thạc sĩ Công nghệ sinh học

Trực tiếp phụ trách chọn lọc và khảo nghiệm dòng giống HB06 từ năm 2016; đồng hành cùng ~600 dự án trồng Vetiver chống sạt lở, xử lý môi trường và nông nghiệp bền vững trên ~30 tỉnh/thành. Xem hồ sơ chuyên môn →

Cập nhật bản tin

Nhập địa chỉ email của bạn dưới đây và đăng ký bản tin của chúng tôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *