Trang chủ › Đặc tính & nhận diện › Cỏ hương bài, cỏ hương lau và cỏ Vetiver có phải là một?
Cỏ hương bài, cỏ hương lau và cỏ Vetiver có phải là một?
Tóm tắt
Cỏ hương bài chính là cỏ Vetiver. Nhưng ở Việt Nam còn hai cây khác cũng mang cái tên này, và một trong hai cây đó có độc. Bài viết chỉ ra ba cây khác nhau ở đâu, cùng bốn dấu hiệu để bạn nhận ra đúng cây mình cần.

“Cỏ hương bài với cỏ Vetiver có phải một cây không, mà sao có người bảo cây hương bài có độc?” Nếu bạn đang hỏi câu ấy thì câu trả lời ngắn là: một cây, nhưng không chỉ một cây mang tên ấy. Trong bài này, OlaFarm sẽ giúp bạn nhận ra đúng cây mình cần bằng bốn dấu hiệu kiểm được ngay tại vườn giống, và nói rõ hai cây kia khác ở đâu.
Nếu bạn đang tìm mua giống và nghe người bán gọi là cỏ hương bài, người khác lại gọi cỏ hương lau, còn hồ sơ thiết kế thì ghi cỏ Vetiver, thì cả ba tên đó thường chỉ cùng một loài.
Chuyện rắc rối nằm ở chỗ khác. Ở Việt Nam có ít nhất hai cây nữa cũng được gọi bằng những cái tên rất gần, một cây thuộc họ hoàn toàn khác và có độc, một cây là họ hàng gần của cỏ Vetiver nhưng bộ rễ ngắn nên không giữ được đất. Nếu bạn mua nhầm thì tiền giống mất đi chưa đáng ngại bằng thời gian trồng và phần công trình phải làm lại.
→ Cỏ Vetiver là gì? Cẩm nang A–Z về đặc tính và ứng dụng
Nội dung bài
Cỏ hương bài là gì và vì sao lại có tên gọi đó
Cỏ hương bài là tên dân gian của loài cỏ có tên khoa học Chrysopogon zizanioides, thuộc họ Hoà thảo. Đây đúng là loài mà ngành xây dựng, giao thông và môi trường vẫn gọi bằng tên phiên âm quốc tế là cỏ Vetiver.
Cái tên đến từ nghề làm hương. Rễ của cây chứa tinh dầu nặng, mùi trầm và bám rất lâu, nên từ xưa người ta đào rễ, phơi khô rồi bó lại làm nguyên liệu se hương. Chữ “hương bài” nói về công dụng đó chứ không nói về hình dáng cây. “Cỏ hương lau” cũng là tên gọi của chính loài này ở một số vùng.

Trong nghề, tên khoa học mới là thứ đáng tin. Tên dân gian thay đổi theo vùng, còn Chrysopogon zizanioides thì ở đâu cũng chỉ đúng một loài. Đó cũng là câu bạn nên hỏi khi liên hệ một vườn giống.
Tên thường gọi và tên khoa học khác nhau ở chỗ nào

Chuyện ba cây cùng một tên nghe thì lạ, nhưng nguyên nhân của nó rất đơn giản.
Tên thường gọi do chính người dùng cây đặt ra. Người ta gọi theo cái mình nhìn thấy hoặc cái mình đem cây đi làm: rễ thơm đem se hương thì thành “hương bài”, lá xoè hai bên như nan quạt thì thành “rẻ quạt”. Không ai quản lý những cái tên ấy. Cùng một cây, sang tỉnh khác đã mang tên khác, và ngược lại, hai cây chẳng liên quan gì đến nhau vẫn trùng tên được nếu người ta dùng chúng vào cùng một việc.
Ví dụ ngay trong bài này: cả cỏ Vetiver lẫn cây rẻ quạt đều được trồng lấy rễ làm hương, nên cả hai cùng mang tên hương bài.
Tên khoa học thì ngược lại hoàn toàn. Mỗi loài trên thế giới có đúng một tên khoa học, viết bằng tiếng Latinh và in nghiêng, gồm hai phần: phần đầu là tên chi, phần sau là tên loài. Chrysopogon zizanioides nghĩa là loài zizanioides nằm trong chi Chrysopogon. Cái tên đó không đổi khi bạn đi từ Quảng Bình sang Thái Lan hay sang Brazil.
Điểm đáng giá nằm ở chỗ tên khoa học mang theo thông tin về họ hàng, còn tên dân gian thì không. Loài nằm trong chi, chi nằm trong họ, họ nằm trong bộ. Đọc tên khoa học là biết ngay cây đó đứng ở đâu trong dòng dõi thực vật, và nó gần gũi với những cây nào.
Áp vào ba cây của bài này thì mọi thứ sáng ra.
Cỏ hương bài (Chrysopogon zizanioides) và Cỏ Đế (Chrysopogon nemoralis) đứng chung một chi. Hai loài này là họ hàng gần, trông na ná nhau, và đó chính là lý do cả người bán lẫn người mua đều dễ nhầm. Nhưng chung chi không có nghĩa là chung công dụng, vì chúng khác nhau ở bộ rễ và ở việc có kết hạt hay không.
Cây hương bài lá rẻ quạt (Dianella ensifolia) thì khác chi, khác họ, khác cả bộ. Nó không phải là cỏ. Nó nằm cùng bộ với cây măng tây và cây huệ, và thú vị là một trong những tên dân gian của nó, “huệ rừng”, lại gần với sự thật hơn hẳn cái tên hương bài.
Có một cách hình dung khoảng cách đó cho dễ. Cỏ hương bài cùng họ Hoà thảo với cây lúa và cây ngô, còn cây hương bài lá rẻ quạt thì không. Nghĩa là cỏ hương bài họ hàng gần với cây lúa ngoài đồng hơn là với chính cái cây trùng tên với nó.
Đây là chỗ bạn cần nắm khi đi mua giống. Hai cái tên giống nhau chỉ nói rằng người ta từng dùng hai cây vào cùng một việc. Nó không hứa hẹn gì về bộ rễ, về khả năng giữ đất, hay về chuyện cây có độc hay không. Muốn biết những thứ ấy thì phải hỏi tên khoa học.
Cây nào ở Việt Nam cũng được gọi là hương bài?

Có một chi tiết nhỏ đáng để ý: chữ “cỏ” và chữ “cây” đứng trước tên gọi thường là chỗ rẽ.
Cỏ hương bài là cỏ Vetiver, loài bạn đang tìm nếu muốn giữ đất, xử lý ô nhiễm hoặc lấy rễ chưng cất tinh dầu.
Cây hương bài, còn gọi là cây hương bài lá rẻ quạt, lại là một loài hoàn toàn khác: Dianella ensifolia, thuộc họ Asphodelaceae. Cây này cũng được trồng lấy rễ làm hương, nhiều nhất ở vùng Tiền Hải tỉnh Thái Bình, rồi Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh. Lá hình mác dài 40–70 cm, rộng 1,5–3,5 cm, ôm lấy thân thành hai hàng trông như nan quạt (Đỗ Tất Lợi, 2004, tr. 324–325). Trong bộ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi ghi rõ về loài này: “Cây có độc không dùng làm thuốc uống được. Súc vật ăn có thể bị chết.” (Đỗ Tất Lợi, 2004, tr. 324–325)
Một trong các tên gọi khác của cây có độc này lại là hương lâu, nghe gần như trùng với cỏ hương lau. Vì vậy nghe riêng cái tên thì không kết luận được gì, bạn phải nhìn cây.


Cỏ Đế là trường hợp thứ ba và cũng là trường hợp dễ mất tiền nhất. Tên khoa học của nó là Chrysopogon nemoralis, cùng chi với cỏ Vetiver, mọc tự nhiên ở vùng núi Thái Lan, Lào và Việt Nam. Người dân một số tỉnh ven biển miền Trung và Tây Nguyên từ lâu đã trồng nó để giữ bờ ruộng lúa, còn ở Thái Lan nó chủ yếu dùng để lợp nhà (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 24).
Vấn đề là hiện nay tại Việt Nam có đơn vị bán Cỏ Đế dưới đúng cái tên “cỏ Vetiver”. Cây này ra hoa và có kết hạt, hạt tự phát tán rồi hình thành cỏ dại, còn bộ rễ thì nông hơn và cây kém khoẻ hơn cỏ Vetiver (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 24).

| Cỏ hương bài | Cây hương bài lá rẻ quạt | Cỏ Đế | |
|---|---|---|---|
| Tên khoa học | Chrysopogon zizanioides | Dianella ensifolia | Chrysopogon nemoralis |
| Họ thực vật | Hoà thảo (Poaceae) | Asphodelaceae | Hoà thảo (Poaceae) |
| Còn bị gọi là | cỏ hương lau, cỏ Vetiver | hương lâu, huệ rừng, rẻ quạt | “cỏ Vetiver” |
| Hoa và hạt | ra hoa, không kết hạt | có quả mọng màu tím | ra hoa, có kết hạt |
| Bộ rễ | chùm, đâm thẳng đứng, ăn sâu | có thân rễ bò ngang | nông hơn cỏ Vetiver |
| Dùng vào việc gì | giữ đất, xử lý ô nhiễm, chưng cất tinh dầu | rễ làm hương; cây có độc | lợp nhà, giữ bờ ruộng |
Nhận ra cỏ hương bài thật tại vườn giống bằng bốn dấu hiệu

Phiến lá. So với Cỏ Đế, cỏ Vetiver mọc cao và to hơn, thân cứng và khoẻ hơn, lá rộng hơn và có một sống màu xanh nhạt chạy giữa phiến lá (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 24). Cái sống nhạt màu này là dấu hiệu nhanh nhất, bạn chỉ cần lật một chiếc lá lên xem.
Cách cây lan ra. Cỏ Vetiver mọc thành khóm chụm, không có thân bò ngang cũng không có thân rễ, nên nó ở yên chỗ được trồng và không lan sang ruộng bên cạnh. Cây hương bài lá rẻ quạt thì ngược lại, nó có thân rễ bò ngang dưới đất.
Hoa và quả. Cỏ Vetiver trổ bông kiểu bông cỏ, chia nhánh mảnh, không có cánh hoa và không kết hạt. Cây hương bài lá rẻ quạt thì cho hoa sáu cánh màu tím nhạt với sáu bao phấn vàng, rồi kết thành quả mọng màu xanh tím. Thấy cánh hoa hoặc thấy quả mọng thì chắc chắn đó không phải cây bạn cần.


Mùi của rễ. Rễ cỏ Vetiver có mùi thơm trầm, hơi ngai ngái mùi đất ẩm và gỗ, bám lâu trên tay sau khi bạn buông ra. Mùi này là lý do cây có tên hương bài, và nó rõ nhất ở rễ già.
Nếu bạn mua giống từ một nơi chưa quen, cách chắc chắn nhất vẫn là hỏi thẳng đơn vị cung cấp tên khoa học của giống họ đang bán, rồi đối chiếu với bốn dấu hiệu trên khi nhận hàng. Với các đơn hàng của mình, chúng tôi luôn nói rõ giống nào đang được giao và mời khách xem tép giống thật trước khi chốt.
→ Rễ cỏ Vetiver: nguyên liệu chưng cất tinh dầu và làm hương
Nhận nhầm cây thì công trình của bạn mất những gì
Ba cây trong bài này không thay thế được cho nhau, và khoảng cách giữa chúng lớn hơn nhiều người tưởng.
Với cây hương bài lá rẻ quạt, khoảng cách là tuyệt đối. Nó khác họ, có độc, và không được dùng cho việc giữ đất, xử lý ô nhiễm hay chưng cất tinh dầu vetiver. Bạn trồng nó lên mái taluy thì không có gì giữ đất cả.
Với Cỏ Đế thì khoảng cách tinh vi hơn nên cũng nguy hiểm hơn. Cây trông na ná, cùng chi. Cẩm nang kỹ thuật bản tiếng Việt của Mạng lưới Vetiver Quốc tế xếp nó vào loại khả năng phát triển thấp, bộ rễ ngắn, không thích hợp để ổn định những sườn đất dốc, và kết luận thẳng: chỉ nên dùng C. zizanioides cho mục đích giữ đất, xử lý nước thải và phục hồi môi trường, vì Cỏ Đế chưa có nghiên cứu nào ở những việc đó (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 26).
Tôi muốn nói thêm một điều mà cẩm nang năm 2008 chưa có, để bạn khỏi hiểu sai về Cỏ Đế. Một nhóm nghiên cứu ở Thái Lan đã đo trực tiếp rễ của hai loài trong phòng thí nghiệm. Sức kháng kéo của từng sợi rễ Cỏ Đế không thua rễ cỏ Vetiver, đường kính rễ còn lớn hơn khoảng 1,3 lần, và khi cắt đất có rễ thì cả hai loài đều làm lực dính của đất tăng thêm chừng 4 đến 5 kPa (Phan và cộng sự, 2021). Nghĩa là nếu chỉ nhìn vào độ bền của từng sợi rễ thì hai cây khá gần nhau.
Chỗ khác nhau lộ ra khi rễ chết đi. Cùng nhóm ấy đo tiếp qua 112 ngày sau khi phun thuốc diệt cỏ, và thấy rễ Cỏ Đế mất sức bền lẫn khả năng gia cố đất nhanh hơn, nhiều hơn rễ cỏ Vetiver (Phan và cộng sự, 2022). Với công trình cần giữ đất qua nhiều mùa mưa, thứ đáng tiền là bộ rễ còn giữ được bao lâu, và ở điểm đó Cỏ Đế thua.
Thêm một điểm nữa cho người làm công trình. Cỏ Đế có kết hạt, hạt phát tán rồi mọc thành cỏ dại ngoài phạm vi trồng. Cỏ Vetiver thì không: nó ra hoa nhưng hạt không nảy mầm, không có thân bò ngang cũng không có thân rễ, nên trong hệ đánh giá nguy cơ cỏ dại của các đảo Thái Bình Dương (PIER) nó được xếp ở mức rủi ro thấp, với điểm âm 8 (Truong và Lưu Thái Danh, 2015, tr. 35).
Sở dĩ giống trồng phổ biến ở Việt Nam không kết hạt là vì nó thuộc dòng Nam Ấn được nhân bằng cách tách khóm suốt hàng chục năm. Khi lấy 60 mẫu từ 29 nước ngoài vùng Nam Á đem xác định ADN, 53 mẫu, tức 88%, hoá ra thuộc về cùng một dòng vô tính (Truong và cộng sự, 2008a, tr. 23). Nói cách khác, cây bạn trồng ở Quảng Bình và cây một kỹ sư Úc trồng trên mái taluy của họ gần như là cùng một cây.
→ Giống cỏ Vetiver: ba dòng giống OlaFarm đang cung cấp
Tóm lại, cỏ hương bài là cỏ Vetiver, nhưng ở Việt Nam còn hai cây nữa mang cái tên gần giống: cây hương bài lá rẻ quạt khác họ và có độc, còn Cỏ Đế cùng chi nhưng kết hạt và mất sức giữ đất nhanh khi rễ chết. Tên gọi không nói được điều nào trong ba điều ấy, tên khoa học và bốn dấu hiệu ngoài vườn thì nói được.
Bạn đang cầm một tép giống mà chưa chắc là cây nào? Hãy chụp cho OlaFarm phiến lá, gốc rễ và bông nếu có. Chúng tôi sẽ đối chiếu với giống đang trồng ở vườn giống của mình và nói cho bạn biết nó có phải cỏ Vetiver không. Bạn có thể liên hệ OlaFarm hoặc xem ba dòng giống cỏ Vetiver đang cung cấp.
Câu hỏi thường gặp về cỏ hương bài
Tôi nghe người ta gọi cỏ hương bài, vậy đó có phải là cỏ Vetiver không?
Đúng, đó là cùng một loài, tên khoa học là Chrysopogon zizanioides. “Cỏ Vetiver” là tên phiên âm quốc tế thường gặp trong hồ sơ thiết kế và tài liệu kỹ thuật, còn “cỏ hương bài” là tên dân gian tại Việt Nam, đặt theo công dụng làm hương từ rễ. Bạn chỉ cần lưu ý thêm rằng có những cây khác cũng được gọi bằng cái tên gần giống.
Cỏ hương lau và cỏ hương bài có phải là hai cây khác nhau không?
Trong phần lớn trường hợp, cỏ hương lau và cỏ hương bài là cùng một loài, đều chỉ cỏ Vetiver. Tuy nhiên chữ “hương lâu” cũng là một tên gọi khác của cây hương bài lá rẻ quạt có độc, nên hai cách gọi này nghe rất gần nhau. Cách an toàn là hỏi tên khoa học thay vì dựa vào tên gọi.
Hai cây cùng tên hương bài có họ hàng gì với nhau không?
Gần như không. Cỏ hương bài thuộc họ Hoà thảo, cùng họ với cây lúa và cây ngô. Cây hương bài lá rẻ quạt thuộc họ Asphodelaceae, cùng bộ với cây măng tây và cây huệ. Hai cây đứng ở hai nhánh khác hẳn nhau trong cây phân loại thực vật, và chỉ gặp nhau đúng ở một điểm là rễ của cả hai đều từng được dùng để làm hương. Riêng Cỏ Đế thì đúng là họ hàng gần của cỏ hương bài, vì hai loài chung một chi.
Cây hương bài mà người ta trồng lấy rễ làm hương có độc thật không?
Cây hương bài lá rẻ quạt, tên khoa học Dianella ensifolia, đúng là cây có độc. Trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi ghi rằng cây có độc, không dùng làm thuốc uống được và súc vật ăn có thể bị chết (Đỗ Tất Lợi, 2004, tr. 324–325). Cây này vẫn được trồng lấy rễ làm hương ở nhiều nơi, nhưng nó không phải cỏ Vetiver và không dùng được cho các ứng dụng kỹ thuật.
Cỏ hương bài có mùi như thế nào?
Mùi nằm ở rễ chứ không ở lá. Rễ cỏ hương bài có mùi thơm trầm, gợi mùi đất ẩm và gỗ, không ngọt và không bay nhanh như các loại tinh dầu từ hoa. Đặc điểm bám lâu này chính là lý do ngành hương liệu quan tâm đến nó. Bạn bẻ một đoạn rễ già ngay tại vườn giống là ngửi thấy được.
Tôi cần hỏi người bán điều gì để chắc chắn không mua nhầm cỏ hương bài?
Hãy hỏi ba câu. Thứ nhất là tên khoa học của giống họ đang bán, câu trả lời phải là Chrysopogon zizanioides. Thứ hai là giống đó có kết hạt hay không, vì cỏ Vetiver ra hoa nhưng không kết hạt. Thứ ba là xin xem một tép giống thật để kiểm bộ rễ và sống lá xanh nhạt giữa phiến. Hãy cho OlaFarm biết bạn định trồng cho mục đích gì, chúng tôi sẽ gửi ảnh giống cùng thông tin dòng giống phù hợp để bạn đối chiếu trước khi quyết định.
Tài liệu tham khảo
- Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học.
- Phan, T. N., Leung, A. K., Kamchoom, V. và Likitlersuang, S. (2022). Reinforcement losses in soil stabilisation due to decomposing roots of Chrysopogon zizanioides and Chrysopogon nemoralis. Land Degradation & Development. https://doi.org/10.1002/ldr.4517
- Phan, T. N., Likitlersuang, S., Kamchoom, V. và Leung, A. K. (2021). Root biomechanical properties of Chrysopogon zizanioides and Chrysopogon nemoralis for soil reinforcement and slope stabilisation. Land Degradation & Development. https://doi.org/10.1002/ldr.4063
- Truong, P. và Lưu Thái Danh (2015). The Vetiver System for Improving Water Quality: Prevention and Treatment of Contaminated Water and Land (ấn bản 2). The Vetiver Network International.
- Truong, P., Trần Tân Văn và Pinners, E. (2008a). Hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường. Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), bản tiếng Việt. https://www.vetiver.org/VNN-VSmanual.pdf
OlaFarm là đơn vị cung cấp giống cỏ Vetiver được liệt kê trên danh bạ chính thức các nhà cung cấp giống cỏ Vetiver của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI), mục Việt Nam (nguồn: Global Vetiver Grass Plant Suppliers). Nếu bạn cần mua giống cỏ Vetiver hoặc tư vấn thêm về giống cỏ này, hãy liên hệ OlaFarm để được trợ giúp.




